CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã có những tác động tích cực đối với công tác PCTP, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân.Với việc ban hành BLHS mới sẽ góp phần khắc phục những thiếu sót, hạn chế của BLHS năm 1999, đồng thời tiếp tực tăng cường pháp chế XHCN, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp và cá nhân. BLHS mới cũng đã cụ thể hóa nhiều quan điểm lớn của Đảng, quy định của Hiến pháp 2013 về PCTP, về đổi mới và hoàn thiện chính sách hình sự, đáp ứng kịp thời và có hiệu quả của cuộc đấu tranh PCTP trong tình hình mới. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gồm có XXVI chương và 426 điều, tăng 82 điều so với BLHS năm 1999, quy định về tội phạm và hình phạt và các biện pháp tư pháp, trong đó nhiều tội phạm mới được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh PCTP trong tình hình mới, khắc phục được những thiếu sót và bất cập của BLHS năm 1999.
Trong đó, tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS được quy định tại Điều 175 thuộc Chương XVI các tội xâm phạm sở hữu. Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010: “Lạm dụng là dùng, sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [39, tr. “Tín nhiệm là tin tưởng mà giao phó, trông cậy vào nhiệm vụ, sự việc cụ thể nào đó” [39, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (chủ biên) của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1998 thì “Chiếm đoạt là hành vi cố ý 8 chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế” [46, tr.
Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS là một hiện tượng xã hội tiêu cực xuất hiện và tồn tại từ lâu trên thế giới và ở nước ta. Lạm dụng tín nhiệm CĐTS được xác định là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua hình thức các hợp đồng và sau đó đã dùng các thủ đoạn gian dối; bỏ trốn để CĐTS hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không có khả năng trả lại tài sản. Để nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân sự, thương mại với hành vi phạm tội hình sự, tránh được tình trạng “hình sự hoá” ác giao dịch dân sự, kinh tế hay “dân sự hoá” các hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS cần phải tìm hiểu cụ thể về khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS [48, tr. Theo quy định của PLHS Việt Nam có thể hiểu tội phạm là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các khách thể được PLHS Việt Nam bảo vệ.
Tội phạm có 4 yếu tố thuộc tính cơ bản sau: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi này được quy định trong BLHS; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý; người phạm tội phải chịu hình phạt theo quy định pháp luật. Bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm gồm: Mặt khách quan; mặt chủ quan; khách thể và chủ thể của tội phạm. Theo đó, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không thoả mãn 4 yếu tố cấu thành tội phạm thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mỗi một tội phạm đều có những dấu hiệu đặc trưng riêng và cũng chính là cơ sở để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác [16, tr.
Và khái niệm tội phạm đã được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS quy định lần đầu tiên tại Điều 140 BLHS năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS XHCN quy định tại Điều 135 BLHS năm 1985, đến BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS đã được quy định tại Điều 175: 9 “1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây CĐTS của người khác trị giá từ 4.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 4.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối CĐTS đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể và chi tiết hơn trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tài sản bị chiếm đoạt được định lượng rõ ràng, phù hợp với điều kiện thực tế.
Nhận thức về tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS được hiểu theo khoa học pháp lý là: “hành vi sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để CĐTS của người khác hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” [33, tr. Như vậy, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm CĐTS và lý luận khoa học hình sự, căn cứ vào quy định của Điều 175 về tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS và BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chúng tôi đưa ra khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS như sau: “Lạm dụng tín nhiệm CĐTS là hành vi sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để CĐTS của người khác hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn 10 đến không có khả năng trả lại tài sản, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 4.000 đồng trở lên hoặc dưới 4.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”. Cơ sở định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Cơ sở của định tội danh Khái niệm định tội danh ngày nay có rất nhiều cách diễn giải, GS.
TSKH Lê Cảm nhận định: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS, cũng như pháp luật TTHS được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của VAHS để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định” [3, tr.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là một dạng của hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng PLHS nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm PLHS quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [43, tr. Định tội danh là được xác định là một hoạt động nhận thức và áp dụng PLHS trên cơ sở xác định một cách khách quan, đầy đủ và chính xác các tình tiết, diễn biến cụ thể của hành vi phạm tội theo đúng quy định của quy phạm PLHS cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết của hành vi phạm tội thông qua các giai đoạn nhất định. Giai đoạn cơ bản của việc áp dụng PLHS là định tội danh và có ý nghĩa 11 chính trị, xã hội, đạo đức và pháp lý hết sức quan trọng. Thông qua quá trình thực hiện hoạt động định tội danh đã thể hiện việc đánh giá các yếu tố chính trị, xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định; tránh việc truy cứu TNHS oan sai; là cơ sở quan trọng cho việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội; bên cạnh đó còn là căn cứ để xác định các thủ tục tố tụng và đảm bảo cho việc đánh giá chính xác tình hình tội phạm nhằm đưa ra các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả.
Trong quá trình áp dụng quy phạm PLHS có tất cả 03 giai đoạn, gồm: Định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt.