Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Thanh niên tại các khu công nghiệp 1. Khái niệm Thanh niên tại các khu công nghiệp Thanh niên là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống hằng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học. Có nhiều quan niệm khác nhau về thanh niên.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thanh niên là “người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [43, tr. Dưới góc độ sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn trong quá trình phát triển cơ thể vì trong giai đoạn này thể lực, trí tuệ, sinh lý của con người có sự thay đổi rõ rệt. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất. Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là giai đoạn chuyển từ ý thức, tư duy theo khuynh hướng lệ thuộc vào gia đình, nhà trường và xã hội sang giai đoạn tự ý thức, nhận thức được về thái độ, hành vi, tư tưởng.
Thanh niên dưới góc độ kinh tế học là nguồn nhân lực không thể thiếu trong đội ngũ lao động và sản xuất. Thanh niên cũng là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, gắn bó mật thiết với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Theo góc độ xã hội học, thanh niên là một nhóm xã hội dân cư với sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, định hướng giá trị, v. Nhóm xã hội dân cư này có những đặc điểm, đặc trưng chung tạo nên tính thống nhất của nhóm, cụ thể như: sự năng động, nhạy bén, sáng tạo, ưa 9 thử nghiệm, v.
Độ tuổi của thanh niên được tính khác nhau tuỳ từng nước. Có nước tính từ 14, 15, thậm chí từ 13, đến 24, 25 tuổi; có nước tính từ 15 đến 30 tuổi. Tại Việt Nam, Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 quy định tại Điều 1: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [23]. Để đánh giá một cách tương đối toàn diện và bao hàm được các nội dung về tổ chức PBGDPL đối với thanh niên nói chung, thanh niên được hiểu là một lớp người trong xã hội từ đủ 16 đến 30 tuổi gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, có tâm sinh lý đặc thù và có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thanh niên có thể được chia thành các nhóm khác nhau theo từng địa bàn, lĩnh vực như: Thanh niên ở đô thị, thanh niên ở nông thôn, thanh niên là công nhân, thanh niên tại các KCN, v. KCN là công cụ của chính sách công nghiệp nhằm thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Việc xây dựng các KCN tạo nền tảng để huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, tiếp nhận công nghệ mới, tạo việc làm mới và hỗ trợ giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của những vùng lạc hậu; qua đó, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, các địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Nghiên cứu về KCN cho thấy, KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập.
Các KCN có ranh giới địa lý độc lập với khu dân cư và không có cư dân sinh sống. Các loại hình doanh nghiệp tại KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công 10 nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN. Doanh nghiệp sản xuất KCN bao gồm cả doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, gọi là doanh nghiệp chế xuất.
Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Như vậy, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định; trong KCN sẽ bao gồm doanh nghiệp sản xuất KCN, doanh nghiệp dịch vụ KCN. Từ các khái niệm thanh niên, KCN như phân tích ở trên, thanh niên tại các KCN được hiểu là những người từ đủ 16 đến 30 tuổi, làm việc tại các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp, doanh nghiệp thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp trong khu vực có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Đặc điểm thanh niên tại các khu công nghiệp Tính đến tháng 12/2018, cả nước có 326 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên đạt gần 93.
Có 250 KCN đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt hơn 73% và 76 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản [44]. Các KCN đi vào hoạt động đã thu hút hàng triệu lao động tới làm việc, trong đó phần lớn là lao động trong độ tuổi thanh niên. Thanh niên tại các KCN có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, về giới tính và tuổi tác, lao động tại các KCN phần lớn có độ tuổi không quá 30, tỉ lệ nữ cao hơn tỉ lệ nam. Các KCN hiện nay đã thu hút khoảng 03 triệu lao động tới làm việc, trong đó, lao động nữ chiếm trên 60% 11 tổng số lao động.
Một số ngành như da-giày, dệt-may, chế biến thủy sản có tỉ lệ lao động là nữ chiếm tới 80% đến 90% tổng số lao động tại doanh nghiệp. Thứ hai, về quê quán, thanh niên tại các KCN hiện nay chủ yếu là lao động nhập cư từ nhiều vùng trong cả nước và lao động dịch chuyển từ các địa phương trong địa bàn. Nguồn gốc của thanh niên tại các KCN chủ yếu là lao động từ khu vực nông thôn. Lý giải cho vấn đề này là do tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp ở các vùng nông thôn khiến dòng người di cư tìm đến các KCN làm việc.
Thứ ba, phần lớn thanh niên tại các KCN có trình độ chuyên môn, tay nghề chưa cao. Điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp chủ yếu tuyển dụng lao động phổ thông tham gia vào quy trình sản xuất không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Nhiều ngành nghề tại các KCN như dệt-may, chế biến lương thực-thực phẩm, lắp ráp linh kiện điện tử, v.v thường có xu hướng sử dụng lao động giản đơn, chưa qua đào tạo. Thứ tư, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp của thanh niên tại các KCN còn thấp.
Hiện nay, tâm lý, thói quen và tác phong lao động gắn với nền sản xuất nhỏ còn in đậm trong một bộ phận công nhân tại các KCN. Đa số thanh niên tại các KCN xuất thân từ nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế kém phát triển, trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ nên ý thức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp còn hạn chế và còn nhiều thói quen xấu cần phải được chấn chỉnh. Thứ năm, sự biến động lao động (vào-ra) của các doanh nghiệp trong các KCN là rất lớn, chủ yếu do lao động tự ý bỏ việc, chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Biến động lao động xảy ra chủ yếu sau các dịp tết.
Thu nhập thấp; ý thức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật kém nên thanh niên tại các KCN thường nghỉ tết nhiều hơn số ngày quy định nhưng lại dễ dàng tìm một công việc mới tại doanh nghiệp khác vì doanh nghiệp thường có 12 nhu cầu tuyển dụng lao động lớn sau dịp tết. Tình trạng này làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tổ chức sản xuất vì thiếu lao động và phải đào tạo lao động mới tuyển dụng. Các doanh nghiệp thường có nhiều biến động lao động là các ngành dệt-may, da-giày, lắp ráp điện tử, v. Thứ sáu, việc làm, thu nhập của thanh niên tại các KCN còn thiếu ổn định và chưa đáp ứng mức sống tối thiểu của người lao động.
Thực trạng doanh nghiệp chỉ tuyển dụng lao động ở một độ tuổi nhất định và sa thải lao động sau một thời gian làm việc nhất định đã và đang là vấn đề nhức nhối hiện nay tại các KCN. Hầu hết lao động tại các KCN có tuổi đời dưới 35. Tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp còn thấp, mức lương tối thiểu chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động. Chi tiêu thường xuyên của lao động di cư luôn ở mức cao hơn so với chi tiêu của lao động tại địa phương do họ phải chi khá nhiều tiền cho việc thuê nhà ở, đi lại, chăm sóc y tế, v.v, không ít người còn phải tiết kiệm tiền để gửi về quê hỗ trợ gia đình.
Thứ bảy, nhu cầu về vui chơi giải trí của thanh niên tại các KCN là rất lớn nhưng chưa được đáp ứng kịp thời; vấn đề hôn nhân, gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh niên tại các KCN còn nhiều bất cập. Đa số các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho sản xuất, ít quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt, giải trí cho người lao động nên việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho công nhân chưa được đầu tư nhiều. Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao cho thanh niên tại các KCN gần như không có hoặc nếu có thì phần lớn là do các tổ chức, cá nhân xây dựng, mang nặng tính dịch vụ, phù hợp hơn với đối tượng có thu nhập cao khiến cho thanh niên tại các KCN không thể tham gia hưởng thụ và hoạt động thường xuyên. Phần lớn sau giờ làm việc, thanh niên tại các KCN chỉ biết về nơi nghỉ tạm, ít được tham gia các hoạt động, phong trào tập thể.
13 Địa điểm làm việc tại các KCN thường ở xa trung tâm, phải thường xuyên tăng ca, làm thêm giờ nên với công nhân đã có gia đình thì gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc, nuôi dạy con; còn với công nhân là lao động trẻ chưa có gia đình thì ít có điều kiện, thời gian gặp gỡ, tìm hiểu bạn khác giới.