Tổng quan nghiên cứu

Viêm loét giác mạc do nấm là một trong những bệnh lý nhãn khoa nhiễm trùng nặng nề nhất, chiếm tỷ lệ lên tới 52,5% trong tổng số 240 bệnh nhân viêm loét giác mạc điều trị nội trú tại Bệnh viện Mắt Thái Bình trong giai đoạn 2021 - 2022. Căn bệnh này đe dọa trực tiếp đến chức năng thị giác với nguy cơ cao dẫn đến thủng giác mạc, viêm mủ nội nhãn, teo nhãn cầu và mù lòa vĩnh viễn nếu không được chẩn đoán, xử trí kịp thời. Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu cốt lõi: mô tả thực trạng lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh viêm loét giác mạc do nấm và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh trên người bệnh nội trú.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 240 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú được chẩn đoán viêm loét giác mạc tại Khoa Kết giác mạc thuộc Bệnh viện Mắt Thái Bình từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2022. Địa bàn tỉnh Thái Bình mang đặc thù là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với nền kinh tế thuần nông và khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm quanh năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các bào tử vi nấm phát triển mạnh mẽ. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học và vi sinh học chuẩn xác, chỉ ra rằng 78,6% bệnh nhân khi nhập viện đã suy giảm thị lực nghiêm trọng dưới mức đếm ngón tay 3 mét và có tới 83,3% ca nhiễm nấm bắt nguồn từ chấn thương nông nghiệp. Những bằng chứng khoa học này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phác đồ điều trị kháng nấm sớm, hạn chế tối đa nguy cơ suy giảm thị lực và mù lòa cho người dân tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh bệnh học nhãn khoa và mô hình dịch tễ học bệnh truyền nhiễm tại các vùng nhiệt đới để phân tích cơ chế hình thành tổn thương giác mạc. Về mặt sinh bệnh học, giác mạc được cấu tạo bởi 5 lớp mô học trong suốt. Khi lớp biểu mô ngoài cùng bị tổn thương cơ học do dị vật thực vật hoặc bụi đất, các bào tử vi nấm xâm nhập sâu vào lớp nhu mô giác mạc. Tại đây, vi nấm tiết ra các enzyme protease và độc tố hoại tử mô, phá hủy cấu trúc collagen, đồng thời kích hoạt phản ứng viêm giải phóng tế bào bạch cầu đa nhân. Nếu không được ngăn chặn, tổn thương sẽ ăn sâu qua màng Descemet, xâm lấn vào tiền phòng gây mủ nội nhãn và hoại tử toàn bộ giác mạc.

Khung nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Viêm loét giác mạc nhiễm trùng: Tình trạng hoại tử mất tổ chức biểu mô và nhu mô giác mạc do các vi sinh vật gây ra, được mã hóa theo phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 là H16.0.
  • Vi nấm gây bệnh giác mạc: Bao gồm nấm sợi có vách ngăn như Fusarium, Aspergillus, Curvularia, Penicillium và nấm men như các loài Candida.
  • Chấn thương mắt nông nghiệp: Các tổn thương cơ học tại mắt phát sinh trong quá trình gieo trồng, thu hoạch do lá lúa, hạt thóc, cành cây hoặc bụi đất bắn vào bề mặt nhãn cầu.
  • Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh nhãn khoa: Quy trình chẩn đoán bao gồm soi tươi với dung dịch natri clorid 0,9% và nuôi cấy định danh trên môi trường thạch Sabouraud bổ sung kháng sinh Chloramphenicol ủ ở nhiệt độ 25 - 30 độ C.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với phương pháp hồi cứu toàn bộ 240 hồ sơ bệnh án của người bệnh viêm loét giác mạc nội trú tại Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Thái Bình từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2022. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm thu thập đầy đủ tất cả các trường hợp bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn có thực hiện đầy đủ hai kỹ thuật xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy vi nấm, loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu.

Dữ liệu được trích xuất từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện HIS và bệnh án lưu trữ trong thời gian thu thập từ ngày 01/07/2022 đến ngày 31/08/2022. Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20 để làm sạch và phân tích thống kê. Phương pháp phân tích mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm được dùng để khái quát hóa đặc điểm dịch tễ, lâm sàng. Phương pháp kiểm định Chi-square với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 được lựa chọn vì tính tối ưu trong việc đánh giá mối liên quan giữa các biến số định danh như nhóm tuổi, nghề nghiệp, tiền sử chấn thương với căn nguyên gây bệnh viêm loét giác mạc do nấm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 240 bệnh án nội trú cho thấy viêm loét giác mạc do nấm là nguyên nhân hàng đầu với 126 trường hợp, chiếm tỷ lệ 52,5%. Tỷ lệ này cao vượt trội so với các căn nguyên khác gồm vi khuẩn chiếm 29,6% với 71 ca, virus chiếm 13,8% với 33 ca, viêm loét Mooren chiếm 2,5% với 6 ca và Amip chiếm 1,7% với 4 ca. Đáng chú ý, toàn bộ 126 ca nhiễm nấm đều cho kết quả soi tươi dương tính, trong đó mức độ dương tính hai cộng chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,4% với 56 ca, mức độ ba cộng chiếm 31,0% với 39 ca và mức độ một cộng chiếm 12,9% với 31 ca.

Về kết quả nuôi cấy định danh nấm trên 60 ca dương tính, nấm sợi Fusarium spp. là tác nhân phổ biến nhất chiếm 43,3% với 26 ca, tiếp theo là Aspergillus spp. chiếm 20,0% với 12 ca, nấm sợi không định danh chiếm 23,43% với 14 ca, Curvularia chiếm 6,67% với 4 ca, trong khi Penicillium và Cephalosporium mỗi loại chiếm 3,3% với 2 ca. Nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào nhiễm nấm men Candida.

Về mức độ tổn thương thực thể và thị lực, có đến 78,6% bệnh nhân tương đương 99 ca nhập viện trong tình trạng thị lực suy giảm nặng dưới mức đếm ngón tay 3 mét, chỉ có 3,2% tương ứng 4 ca duy trì thị lực trên 7/10. Hình thái tổn thương dạng viêm loét chiếm ưu thế tuyệt đối với 96,8% tương ứng 122 ca và áp xe giác mạc chiếm 3,2% với 4 ca. Về kích thước ổ loét, tổn thương từ 3 đến 6 mm chiếm đa số với 65,1% tương ứng 82 ca, tổn thương trên 6 mm chiếm 27,0% với 34 ca. Tình trạng này kéo dài thời gian nằm viện đáng kể, trong đó 60,3% tổng số ca điều trị nội trú trên 30 ngày là bệnh nhân viêm loét giác mạc do nấm.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ mắc viêm loét giác mạc do nấm tại Thái Bình đạt 52,5%, tương đương với nghiên cứu của tác giả Lê Anh Tâm tại Bệnh viện Mắt Trung ương ghi nhận 50,8% và cao hơn kết quả của tác giả Trần Ngọc Huy tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh với 36,36%. Sự khác biệt rõ rệt xuất phát từ đặc điểm môi trường lao động khi Thái Bình có tới 60,0% đối tượng nghiên cứu là nông dân và 91,7% bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn. Việc tiếp xúc trực tiếp với các dị vật chứa bào tử nấm như lá lúa, hạt thóc, cùi ngô trong quá trình sản xuất tạo điều kiện trực tiếp cho nấm xâm nhập. Chấn thương nông nghiệp chiếm tới 83,3% trong các yếu tố nguy cơ gây loét giác mạc do nấm, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sâu sắc (p < 0,001).

Sự phân bố của các chủng nấm sợi, đặc biệt là Fusarium spp. (43,3%), hoàn toàn tương thích với các báo cáo dịch tễ học nhãn khoa tại các quốc gia nhiệt đới gió mùa châu Á như Ấn Độ và Trung Quốc. Trong thực tế lâm sàng, các số liệu này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu căn nguyên gây bệnh, biểu đồ cột so sánh mật độ phân bố bệnh nhân theo các huyện trong tỉnh (Quỳnh Phụ cao nhất với 21,4%, Vũ Thư 19,2%) và bảng ma trận đối chiếu mức độ suy giảm thị lực theo từng kích thước tổn thương giác mạc. Thời gian nằm viện kéo dài trên 30 ngày ở 38 bệnh nhân nấm (chiếm 60,3% số ca nằm viện dài ngày) khẳng định tính chất dai dẳng, đáp ứng thuốc chậm của nấm sợi trong nhu mô giác mạc.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Nâng cấp hệ thống trang thiết bị xét nghiệm chuyên sâu: Ban Giám đốc Bệnh viện Mắt Thái Bình cần đầu tư triển khai kỹ thuật sinh học phân tử Real-time PCR đa mồi và kỹ thuật nhuộm huỳnh quang Calcofluor White tại Khoa Xét nghiệm trong giai đoạn 2023 - 2024 nhằm rút ngắn thời gian chẩn đoán nấm từ 3 - 7 ngày xuống còn dưới 4 giờ, nâng độ nhạy phát hiện vi nấm lên trên 90%.
  • Kiểm soát nghiêm ngặt quy chế kê đơn thuốc nhỏ mắt: Sở Y tế tỉnh Thái Bình phối hợp cùng Chi cục Quản lý Thị trường tiến hành thanh kiểm tra định kỳ 100% các nhà thuốc tư nhân trên địa bàn, xử phạt nghiêm hành vi tự ý bán thuốc nhỏ mắt chứa Corticosteroid khi không có đơn của bác sĩ nhãn khoa, phấn đấu giảm 40% tỷ lệ loét giác mạc biến chứng do lạm dụng thuốc trong vòng 2 năm tới.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông bảo hộ lao động: Hội Nông dân tỉnh Thái Bình phối hợp với Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề vào quý 1 và quý 3 hàng năm, phát động phong trào đeo kính bảo hộ khi thu hoạch nông sản cho ít nhất 80% hội viên nông dân tại các huyện trọng điểm như Quỳnh Phụ, Vũ Thư và Thái Thụy.
  • Thiết lập quy trình chuyển tuyến nhãn khoa sớm: Bệnh viện Mắt Thái Bình xây dựng và tập huấn phác đồ xử trí ban đầu chấn thương mắt cho 100% trạm y tế xã và trung tâm y tế huyện trong quý 2 năm 2023, đảm bảo bệnh nhân nghi ngờ viêm loét giác mạc được chuyển lên tuyến chuyên khoa trong vòng 24 giờ đầu để bảo tồn thị lực trên mức đếm ngón tay 3 mét.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Mắt và nhân viên y tế nhãn khoa: Nắm bắt các đặc điểm lâm sàng điển hình như kích thước ổ loét từ 3 - 6 mm (65,1%) và hình thái hoại tử vảy khô gồ cao để đưa ra phác đồ điều trị kháng nấm tại chỗ và toàn thân kịp thời ngay khi có kết quả soi tươi.
  • Cử nhân kỹ thuật xét nghiệm y học và vi sinh lâm sàng: Tham khảo chi tiết quy trình chuẩn lấy mẫu bệnh phẩm chất nạo ổ loét giác mạc, kỹ thuật soi tươi dung dịch sinh lý và quy trình nuôi cấy phân lập nấm sợi trên môi trường thạch Sabouraud bổ sung Chloramphenicol theo Quyết định số 26/QĐ-BYT.
  • Học viên cao học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh y học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu hồ sơ bệnh án, kỹ thuật xử lý dữ liệu y sinh học bằng phần mềm SPSS và cách tính kiểm định Chi-square trong dịch tễ học lâm sàng.
  • Nhà quản lý y tế và cán bộ y tế công cộng: Ứng dụng các số liệu dịch tễ học thực địa tại 8 huyện thị của tỉnh Thái Bình để xây dựng các chương trình can thiệp phòng chống mù lòa học đường và bảo vệ thị lực cho người lao động nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tác nhân vi nấm nào gây viêm loét giác mạc phổ biến nhất tại Thái Bình? Theo kết quả nuôi cấy định danh trên 60 ca bệnh phẩm, nấm sợi Fusarium spp. là tác nhân phổ biến nhất với tỷ lệ 43,3% (26 ca), theo sau là Aspergillus spp. chiếm 20,0% (12 ca). Toàn bộ các ca bệnh đều do nấm sợi gây ra, không phát hiện chủng nấm men nào trong nghiên cứu.

  • Vì sao nông dân chiếm tỷ lệ mắc bệnh viêm loét giác mạc do nấm cao vượt trội? Người làm nông nghiệp chiếm 60,0% tổng số bệnh nhân vì môi trường đồng ruộng chứa nhiều bào tử nấm hoại sinh. Khi thu hoạch lúa hoặc làm việc, dị vật thảo mộc như lá lúa, hạt thóc bắn vào mắt gây rách biểu mô, mở đường cho vi nấm xâm nhập và phá hủy nhu mô giác mạc.

  • Chấn thương nông nghiệp làm tăng nguy cơ viêm loét giác mạc do nấm ở mức độ nào? Chấn thương nông nghiệp là yếu tố nguy cơ mạnh nhất, chiếm tới 83,3% trong tổng số các ca viêm loét giác mạc do nấm nhập viện. Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê đặc biệt cao với giá trị p < 0,001 khi so sánh với các loại chấn thương cơ học và phẫu thuật khác.

  • Mức độ suy giảm thị lực của người bệnh khi nhập viện nghiêm trọng ra sao? Thực trạng thị lực của bệnh nhân khi đến Bệnh viện Mắt Thái Bình rất đáng báo động với 78,6% bệnh nhân (99 ca) có thị lực dưới mức đếm ngón tay 3 mét. Chỉ có 3,2% bệnh nhân còn giữ được thị lực trên 7/10 do phần lớn người bệnh đến khám muộn.

  • Thời gian điều trị nội trú của bệnh nhân loét giác mạc do nấm kéo dài bao lâu? Thời gian điều trị nội trú của bệnh nhân nhiễm nấm thường rất dài do vi nấm xâm nhập sâu vào nhu mô. Nghiên cứu ghi nhận 51,9% bệnh nhân phải nằm viện từ 7 đến 30 ngày và có tới 60,3% tổng số các ca bệnh nằm viện trên 30 ngày là do viêm loét giác mạc vi nấm.

Kết luận

  • Tỷ lệ viêm loét giác mạc do nấm chiếm vị trí hàng đầu với 52,5% (126/240 ca) trong các ca viêm loét giác mạc nội trú tại Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2022.
  • Căn nguyên vi sinh hoàn toàn là các chủng nấm sợi, trong đó Fusarium spp. chiếm tỷ lệ cao nhất (43,3%), theo sau là Aspergillus spp. (20,0%).
  • Hậu quả suy giảm thị lực vô cùng nặng nề với 78,6% người bệnh có thị lực dưới mức đếm ngón tay 3 mét và 65,1% có kích thước ổ loét từ 3 đến 6 mm khi vào viện.
  • Chấn thương nông nghiệp là yếu tố nguy cơ chủ đạo (83,3%, p < 0,001), tập trung chủ yếu ở người trưởng thành trên 18 tuổi sinh sống tại các vùng nông thôn thuần nông.
  • Thời gian nằm viện điều trị nội trú kéo dài trên 30 ngày chiếm tới 60,3% trong nhóm các ca bệnh nặng, gây tốn kém chi phí y tế và giảm sút sức lao động.

Luận văn đã đóng góp hệ thống cơ sở dữ liệu dịch tễ học và vi sinh học chuẩn xác, toàn diện đầu tiên về bệnh viêm loét giác mạc do nấm tại tỉnh Thái Bình. Trong giai đoạn 2023 - 2025, ngành y tế địa phương cần khẩn trương đưa các kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử vào quy trình thường quy và tăng cường truyền thông phòng chống chấn thương mắt. Các bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu và cán bộ y tế cơ sở hãy cùng tham khảo, áp dụng ngay các khuyến nghị từ luận văn để nâng cao hiệu quả chẩn đoán sớm, bảo tồn tối đa thị lực cho cộng đồng.