Thực trạng quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Quận Thủ Đức TP.HCM năm 2019 và các yếu tố tác động

Bài viết phân tích thực trạng quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Quận Thủ Đức TP.HCM năm 2019 và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác này.

Trường đại học

Đại học Y tế công cộng

Chuyên ngành

Quản lý bệnh viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

129
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2019

Năm 2019, Bệnh viện Quận Thủ Đức đã áp dụng Thông tư 43/2018/TT-BYT để quản lý sự cố y khoa. Tổng cộng 403 sự cố y khoa được ghi nhận, phân loại và phân tích theo quy định. Sự cố y khoa thường xảy ra vào buổi sáng và tại phòng bệnh, với đối tượng chịu ảnh hưởng chủ yếu là người bệnh và trang thiết bị y tế. Điều dưỡng và hộ sinh là nhóm báo cáo sự cố nhiều nhất (72%). Hầu hết sự cố được báo cáo tự nguyện (99,5%), nhưng chỉ 33% trong số đó tuân thủ đúng quy định. Việc khuyến cáo phòng ngừa sự cố còn hạn chế, với 63% sự cố chưa được khuyến cáo và 29% được thông báo qua bản tin nội bộ.

1.1. Báo cáo và ghi nhận sự cố y khoa

Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2019 chủ yếu được thực hiện bởi điều dưỡng và hộ sinh (72%). Mặc dù 100% sự cố bắt buộc được báo cáo đúng quy định, chỉ 33% sự cố tự nguyện tuân thủ đầy đủ. Điều này cho thấy sự thiếu nhất quán trong việc tuân thủ quy trình báo cáo. Ghi nhận sự cố được thực hiện bởi phòng Quản lý chất lượng, nhưng vẫn còn nhiều sự cố chưa được báo cáo đầy đủ, đặc biệt là những sự cố liên quan đến lỗi hệ thống.

1.2. Phân loại và phân tích sự cố y khoa

Việc phân loại và phân tích sự cố y khoa được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 43/2018/TT-BYT. Tuy nhiên, nhân viên y tế gặp khó khăn trong việc phân nhóm và xác định nguyên nhân gốc rễ của sự cố. Điều này dẫn đến việc nhiều sự cố lặp lại mà chưa được giải quyết triệt để. Phân tích sự cố tập trung vào tổn hại gây ra cho người bệnh và bệnh viện, nhưng vẫn còn thiếu các biện pháp phòng ngừa cụ thể.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự cố y khoa

Nghiên cứu xác định bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng chính đến quản lý sự cố y khoa: nhân viên, bệnh viện, khoa/phòng và quy định bên ngoài. Yếu tố nhân viên bao gồm thiếu hiểu biết, thái độ không tích cực và thực hành không thường xuyên. Yếu tố bệnh viện liên quan đến cơ sở vật chất chưa phù hợp, quy trình không cụ thể và môi trường làm việc áp lực. Yếu tố khoa/phòng chủ yếu là sự giám sát không thường xuyên. Yếu tố quy định bên ngoài bao gồm hướng dẫn chưa rõ ràng từ Thông tư 43/2018/TT-BYT và thiếu hỗ trợ từ cơ quan quản lý.

2.1. Yếu tố nhân viên

Nhân viên y tế tại Bệnh viện Quận Thủ Đức gặp khó khăn trong việc hiểu và tuân thủ quy trình quản lý sự cố y khoa. Thiếu đào tạo và thái độ e dè khi báo cáo sự cố là những rào cản chính. Nhiều nhân viên không tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý sự cố, dẫn đến việc báo cáo không đầy đủ và thiếu chính xác.

2.2. Yếu tố bệnh viện

Bệnh viện Quận Thủ Đức còn nhiều hạn chế trong việc hỗ trợ nhân viên quản lý sự cố. Cơ sở vật chất chưa phù hợp, quy trình không cụ thể và môi trường làm việc áp lực là những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực. Thiếu phương tiện hỗ trợ và chính sách động viên cũng làm giảm hiệu quả của công tác quản lý sự cố.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Để cải thiện quản lý sự cố y khoa, nghiên cứu đề xuất các giải pháp ở nhiều cấp độ. Bệnh viện cần xây dựng lại quy trình, tăng cường đào tạo và bổ sung phương tiện hỗ trợ. Khoa/phòng cần tổ chức kiểm tra và giám sát thường xuyên. Nhân viên cần thực hành báo cáo sự cố thường xuyên và tham gia các lớp đào tạo. Cơ quan quản lý cần cung cấp hướng dẫn rõ ràng và hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao chất lượng quản lý sự cố.

3.1. Giải pháp cho bệnh viện

Bệnh viện Quận Thủ Đức cần xây dựng lại quy trình quản lý sự cố y khoa để đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả. Tăng cường đào tạo nhân viên về quy trình báo cáo và phân tích sự cố. Bổ sung các phương tiện hỗ trợ như phần mềm quản lý và cải thiện cơ sở vật chất để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên.

3.2. Giải pháp cho nhân viên

Nhân viên y tế cần được đào tạo thường xuyên về quản lý sự cố y khoa để nâng cao nhận thức và kỹ năng. Khuyến khích thái độ tích cực và sự tham gia chủ động vào các hoạt động quản lý sự cố. Tạo môi trường làm việc an toàn và hỗ trợ tâm lý để giảm áp lực cho nhân viên.

23/02/2025
Luận văn thực trạng quản lý sự cố y khoa báo cáo tại bệnh viện quận thủ đức thành phố hồ chí minh năm 2019 và một số yếu tố ảnh hưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I là giải thích các thuật ngữ và các quy định chung; từ chương II đến chương IV là hướng dẫn các bước quản lý, phòng ngừa các sự cố y khoa, chương V là trách nhiệm của cá nhân tổ chức, cơ quan chính phủ đối với quản lý sự cố và chương cuối cùng là điều khoảng thi hành (1). Thực trạng quản lý sự cố y khoa 1. Những đặc tính của sự cố y khoa Thời gian xảy ra sự cố y khoa: nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan từ năm 2005 đến năm 2010, cho thấy sự cố té ngã thường diễn ra trong khoảng thời gian từ 4 đến 8 giờ sáng, vì người bệnh có nhiều lý do để ra khỏi giường trong khoảng thời gian này (chẳng hạn như để tắm hoặc đi vệ sinh) và tương đối ít người chăm sóc có sẵn trong thời gian này; các sự cố liên quan đến thuốc có hai giá trị cao nhất từ 8 đến 10 sáng và 2 đến 4 giờ chiều; lí do đây là thời gian mà điều dưỡng thực hiện thuốc cho người bệnh (21). Nghiên cứu Nguyễn Thị Thu tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2017, thời gian gặp phải sự cố nhiều nhất là buổi tối (77,5%), buổi sáng và thời điểm giao ban (35,1% và 33,8%) ít hơn, thấp nhất là vào buổi chiều, nguyên nhân là do tần suất làm việc cao của nhân viên y tế tại đây (22).

Địa điểm xảy ra sự cố y khoa: nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan từ năm 2005 đến năm 2010, hầu hết các sự cố xảy ra ở khoa nội trú (57,6%), tiếp theo là khu vực chăm sóc y tế đặc biệt (13,5%) và nhà thuốc (9,1%); khoa ngoại trú và phòng cấp cứu chiếm khoảng 5% số sự cố (21). Nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Xinqiang Gao ở Trung Quốc từ 2012 đến năm 2017 ba địa điểm xảy ra sự cố thường xuyên nhất là phòng người bệnh (65,4%), đơn vị cấp cứu (8,4%) và đơn vị chăm sóc đặc biệt (7,4%) (23). 13 Đối tượng xảy ra sự cố y khoa: nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan từ năm 2005 đến năm 2010, người bệnh là đối tượng chính của các sự cố y khoa, ngoài ra còn có nhân viên y tế, thân nhân cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng (21). Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà tại bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí năm 2019, đối tượng liên quan nhiều nhất đến các SCYK là người bệnh (67,7%); máy móc/trang thiết bị/cơ sở hạ tâng (26%); nhân viên y tế (3%); thân nhân (2,6%) (24).

Mức độ ảnh hưởng của sự cố y khoa: nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan từ năm 2005 đến năm 2010, khoảng 2,5% các sự cố “ống dẫn” gây thương tích nặng hoặc tử vong; khoảng 9,6% các sự cố trong thủ tục y tế dẫn đến thương tích nặng hoặc tử vong (21). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà ở bệnh viện Việt Nam Thụy Điển – Uông Bí năm 2019 cho thấy tỷ lệ SCYK ở mức độ tổn thương nhẹ chiếm đa số (68,2%), tiếp đến là tổn thương mức độ trung bình (26%), tổn thương nặng (0,3%) (24). Thực trạng quản lý sự cố y khoa ở các nước trên thế giới 1. Thực trạng báo cáo và ghi nhận sự cố y khoa Nghiên cứu của nhóm tác giả Ann-Marie Howell về Hệ thống Báo cáo và Học tập quốc gia Anh (National Reporting and Learning System) ghi nhận nhân viên y tế ở Anh thực hiện 5,8 triệu báo cáo sự cố y khoa trong 10 năm từ năm 2005 – 2015 (25).

Nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan từ năm 2005 – 2010 ghi nhận 128.271 báo cáo sự cố y khoa (21). Nghiên cứu của tác giả Glòria Oliva và các cộng sự về các sự cố liên quan đến an toàn người bệnh tại vùng Catalonia, Tây Ban Nha ghi nhận được 5.948 sự cố y khoa trong 4 năm từ năm 2010 – 2014 (26). Nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Xinqiang Gao ở Trung Quốc từ 2012 – 2017 đã ghi nhận có 36. Nghiên cứu về mức độ tuân thủ theo hướng dẫn của WHO để xây dựng thành công hệ thống báo cáo sự cố y khoa tại Indonesia của nhóm tác giả Inge Dhamanti ghi nhận có 132 sự cố được báo cáo trong năm 2013 và tăng lên 688 sự cố vào năm 2016 (27).

Có thể thấy qua từng năm số lượng sự cố y khoa được báo cáo tăng dần và ở các quốc 14 gia đã phát triển số lượng báo cáo sự cố y khoa cao hơn hẳn ở các nước đang phát triển. Thực trạng phân loại và phân tích sự cố y khoa Nghiên cứu của tác giả Andrews về quan sát các sự cố y khoa xảy ra trong quá trình chăm sóc người bệnh tại ba đơn vị của một bệnh viện trực thuộc một trường đại học y ở Mỹ năm 1997, ghi nhận 1047 người bệnh trong nghiên cứu, có 185 (17,7%) người bệnh đã gặp một sự kiện bất lợi nghiêm trọng. 37,8% các sự cố y khoa là do lỗi của một cá nhân, 15,6% do nhiều nguyên nhân tương tác và 9,8% là do các quyết định hành chính (28). Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Ann-Marie Howell về Hệ thống Báo cáo và Học tập quốc gia Anh trong 10 năm có đến 70,3% các sự cố không gây hại cho người bệnh và 0,9% gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc tử vong (25).

Nghiên cứu của nhóm tác giả Sanne Lubberding về bản chất và nguyên nhân của các sự cố y khoa tại các khoa nội ở Hà Lan năm 2011 cho thấy nhân viên bệnh viện báo cáo 625 sự cố y khoa. Các sự cố y khoa chủ yếu liên quan đến thuốc và được báo cáo nhiều nhất (42%). Trong số tất cả các sự cố y khoa được báo cáo, 12% liên quan đến sự hợp tác giữa khoa nội trú và các khoa khác trong bệnh viện. 920 nguyên nhân gốc đã được xác định.

Nguyên nhân gốc của con người liên quan đến 83,2% các sự cố y khoa, nguyên nhân gốc liên quan đến tổ chức (15,7%), nguyên nhân gốc liên quan đến kỹ thuật (7%) và các nguyên nhân gốc khác (8,6%). Hơn một nửa số sự cố y khoa được báo cáo xảy ra trên người bệnh (62%), chăm sóc dưới mức tối ưu là hậu quả thường xuyên xảy ra nhất (44,7%). Có tổn hại đến người bệnh xảy ra ở 10,3% các sự cố y khoa (29). Nghiên cứu của tác giả Glòria Oliva và các cộng sự về các sự cố liên quan đến an toàn người bệnh tại vùng Catalonia - Tây Ban Nha trong 4 năm có 64% sự cố có ảnh hưởng đến người bệnh, 18% là tình huống có khả năng gây ra sự cố và 18% không ảnh hưởng đến người bệnh.

Trong số những sự cố có ảnh hưởng đến người bệnh có 26% các sự cố gây hại cho người bệnh. Về mức độ nghiêm trọng, hầu hết các sự cố được phân loại là nguy cơ thấp (37%) hoặc các sự cố không ảnh hưởng đến người bệnh (36%), 40 trường hợp (0.76%) là nguy cơ cao. Về các loại sự cố được 15 thông báo, hầu hết là do lỗi thuốc (26,8%), tiếp theo là té ngã (16,3%) và nhận dạng người bệnh (10,6%) (26). Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Natalie Hannaford về sự cố y khoa xảy ra tại các khoa chẩn đoán hình ảnh ở Úc năm 2013 cho thấy sự cố xảy ra thường xuyên nhất trong quá trình chuẩn bị người bệnh (34%), ra y lệnh chẩn đoán hình ảnh (27%), khi thông báo chẩn đoán (23%).

Các vấn đề thường gặp là: bàn giao người bệnh không đầy đủ (41%); chuyển người bệnh không an toàn hoặc không phù hợp (35%); thông tin sai trong tờ chỉ định (52%); trả kết quả trễ hẹn (36%) hoặc chẩn đoán sai (36%) (30). Nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Chung-Chih Lin tại Đài Loan trong 5 năm ghi nhận ba sự cố phổ biến nhất là sự cố liên quan đến sử dụng thuốc, té ngã và các sự cố liên quan đến ống nội khí quản Khi phân tích cơ sở dữ liệu, các sự cố liên quan đến thuốc là loại. Khi phân tích cơ sở dữ liệu, các sự cố liên quan đến thuốc là loại sự cố y tế phổ biến nhất và thường được gây ra bởi yếu tố con người. Hầu hết các người bệnh bị các sự cố liên quan đến thuốc đều được điều trị nội khoa, với các sự cố do giao thuốc và lỗi phân phối thuốc.

Sự cố rơi ngã thứ hai liên quan đến thuốc, nguyên nhân là do dáng đi không ổn định và sử dụng thuốc. Cả hai lỗi này do sự bất cẩn của con người, nên việc cải thiện đào tạo nhân sự và thực hiện quy trình tiêu chuẩn và phân phối thuốc là chìa khóa để ngăn chặn sự tái diễn của loại sự cố này. Khoảng 2,5% các sự cố ống endo dẫn đến thương tích nặng hoặc tử vong. Nguyên nhân chính của sự cố ống là người bệnh rút ống tĩnh mạch do yếu tố tâm lý.

Khoảng 9,6% các sự cố trong thủ tục y tế dẫn đến thương tích nặng hoặc tử vong, nó có xu hướng xảy ra do lỗi nhận dạng người bệnh và lỗi sử dụng dụng cụ. Loại sự cố này chủ yếu là do sơ suất của con người và không tuân theo các quy trình vận hành tiêu chuẩn. Hầu hết các sự cố chấn thương liên quan đến người bệnh khoa tâm thần. Những sự cố này chủ yếu được gây ra bởi các cuộc tấn công vật lý và được kích hoạt bởi người bệnh tâm thần người bệnh hoặc thay đổi tâm trạng.

Vị trí phổ biến nhất là phòng bệnh (57,6%), tiếp theo là khu vực chăm sóc đặc biệt (13,5%) và nhà thuốc (9,1%) (21). 16 Nghiên cứu về hệ thống báo cáo sự cố y khoa của tác giả Xinqiang Gao ở Trung Quốc từ trong 5 năm cho thấy loại sự cố phổ biến nhất là các sự cố liên quan đến thuốc, tiếp theo là các sự cố liên quan đến chăm sóc điều dưỡng và các sự cố liên quan đến phẫu thuật. Hầu hết các người bệnh chịu đựng sự cố liên quan đến thuốc đều được điều trị nội khoa, với các sự cố do sai lầm trong kê đơn thuốc, giao thuốc hoặc quản lý thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Quận Thủ Đức TP.HCM năm 2019 và các yếu tố ảnh hưởng là một nghiên cứu chuyên sâu về tình hình quản lý và xử lý các sự cố y khoa tại một bệnh viện lớn ở TP.HCM. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý y tế, bác sĩ và nhân viên y tế muốn nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động khám chữa bệnh.

Để mở rộng kiến thức về quản lý y tế, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng quản lý nhân lực tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2015-2017, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống y tế. Ngoài ra, Luận văn thực trạng ghi chép hồ sơ bệnh án và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa hồi sức cấp cứu của trung tâm y tế huyện Tam Nông, Đồng Tháp năm 2021 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc quản lý hồ sơ bệnh án. Cuối cùng, Luận văn thực trạng hoạt động thanh tra kiểm tra cơ sở y tế tư nhân của Sở Y tế TP.HCM và một số yếu tố ảnh hưởng trong 9 tháng đầu năm 2022 mang đến góc nhìn về công tác giám sát và quản lý chất lượng trong lĩnh vực y tế.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về các vấn đề quản lý y tế hiện nay. Hãy khám phá để nâng cao hiểu biết và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn!