Đặt vấn đề Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt), nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày mà còn là nguồn thu nhập cho hàng triệu người dân hiện nay. Chăn nuôi là một ngành truyền thống có từ lâu đời ở nước ta. Bên cạnh trồng trọt ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi lợn cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp nguyên liệu cho ngành trồng trọt, công nghiệp chế biến.
Hiện nay, chăn nuôi lợn ngày càng phát triển mạnh cả về chất lượng và số lượng, do tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa để hội nhập với kinh tế quốc tế. Chăn nuôi với quy mô trang trại ngày càng được mở rộng theo khuynh hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, để tận dụng nguồn giống và áp dụng quy trình kỹ thuật công nghệ cao. Đồng thời cũng để đáp ứng mục tiêu sản xuất nguồn thịt sạch bảo đảm cho sức khỏe người tiêu dùng. Trong ngành chăn nuôi lợn, lợn nái có vai trò rất quan trọng.
Muốn ngành chăn nuôi ngày càng phát triển, đạt hiệu quả kinh tế cao thì việc đầu tiên ta phải chú ý đến quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản. Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi. Trong những năm gần đây, mặc dù công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đã được chú trọng, việc phòng chống dịch bệnh cũng được quan tâm hơn, nhưng chăn nuôi vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn về kỹ thuật. Để nắm bắt được quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản, được sự đồng ý của khoa, giáo viên hướng dẫn c 2 và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, xã Khánh Thượng - Ba Vì - Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, xã Khánh Thượng - Ba Vì - Hà Nội. - Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản. - Nắm được các loại thức ăn, khẩu phần ăn và chế độ ăn cho lợn nái sinh sản qua từng giai đoạn mang thai.
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, xã Khánh Thượng - Ba Vì - Hà Nội. - Áp dụng đầy đủ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng trị bệnh c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Trại lợn Nguyễn xuân Dũng là trại của Công ty CP thuộc thôn Hương Canh, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đây là một xã miền núi nằm ở sườn tây núi Ba vì, cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 82km.
Xã có địa bàn giáp gianh với 2 tỉnh, phía Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ. Đặc điểm khí hậu Ba Vì là một huyện bán sơn địa, nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, thời tiết ở đây điển hình cho khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ở miền Bắc Việt Nam. Do đó trại lợn của ông Nguyễn Xuân Dũng cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. Với mùa hè nóng bức với lượng mưa tương đối cao, mùa đông lạnh và khô.
Nằm trong vùng nhiệt đới, Ba Vì quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời dồi dào và nhiệt độ cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khoảng 23,6oC. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 79%. Lượng mưa trung bình năm là 1800mm và mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa, đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Khoảng từ tháng 5 tới tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC.
Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) làm cho thời tiết diễn biến khá phức tạp. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm: - 01: Chủ trại, quản lý trại, kế toán, bảo vệ.
- 02: Kỹ thuật viên. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm 2 tổ khác nhau là: tổ chuồng bầu và tổ chuồng đẻ. Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Cơ sở vật chất của trang trại - Trang trại có tổng diện tích 5ha bao gồm: khu chăn nuôi, khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả.
- Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân. Khu sản xuất gồm: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu và 2 chuồng cách ly. Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng, kho hàn.
- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và được sử dụng các thiết bị hiện đại trong sản xuất. Dàn mát được xây dựng ở đầu mỗi chuồng và bên cạnh chuồng, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió gồm 2 chiếc quạt to và 2 chiếc quạt nhỏ.Ở mỗi chuồng đẻ đều có nhiệt kế để thuận tiện cho việc điều chỉnh nhiệt độ chuồng. - Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng. Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt.
Mọi công nhân trong trại và khách đến thăm quan đều phải đi qua hệ thống sát trùng thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng trước khi vào chuồng. - Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm. c 5 - Xung quanh trang trại còn trồng nhiều cây ăn quả, hầm bioga để tạo môi trường thân thiện trong chăn nuôi. Thuận lợi, khó khăn 2.
Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. - Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
Khó khăn Do thời tiết thay đổi, khắc nhiệt nên bệnh dịch trong trại ngày càng phức tạp gây khó khăn cho công tác điều trị. Hiện nay giá lợn thịt tại trại chỉ còn khoảng 18. Với giá tại thời điểm, trại có thể bị lỗ từ 1,5 - 2 triệu đồng/con, Đặc biệt lợn rớt giá còn kéo theo nhiều hệ lụy, đó là tồn lợn, chết lợn kèm theo nguy cơ bùng phát dịch bệnh và chi phí dành cho phòng, trị bệnh lớn. Từ đó tình hình phát triển chăn nuôi của trại có nhiều thay đổi, trại đã tiến hành cắt giảm công nhân, không nhập thêm lợn hậu bị… 2.
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 2. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ - Quy trình nuôi dưỡng Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ c 6 phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa. Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt.
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn. Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn. Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa. Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý.
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do. Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng. Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn. Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái.
- Quy trình chăm sóc Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con. Chuồng trại phải luôn được vệ sinh sạch sẽ. Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ và các dụng cụ cần thiết. Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ.
Yêu cầu chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, mát về mùa hè và có đầy đủ ánh sáng. Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ. Trước khi đẻ 1 tuần, lợn nái cần được tắm rửa sạch sẽ. Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn mẹ bị viêm vú và lợn con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp c 7 xúc trực tiếp với mầm bệnh.
Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển lợn từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.