chương 1 đã đạt mục tiêu là đưa ra được vấn đề để nghiên cứu nhằm giải quyết thực trạng có những tồn tại trong chuỗi cung ứng sữa của Cty Frieslandcampina. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 2.1 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 2.1 Chuỗi cung ứng Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả trích dẫn một số định nghĩa chuỗi cung ứng để củng cố cơ sở lý luận nghiên cứu của mình như sau: Theo Vorst (2004), Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn có hệ thống phân phối gồm các nhà phân phối, nhà bán lẻ đi cùng với các hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, Marketing, hoạt động phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng để phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng Hình 2.1 Sơ đồ chuỗi cung ứng trong toàn bộ mạng lưới chuỗi cung ứng Nguồn: Vorst (2004, tr.2) Richard và cộng sự (2014) cho rằng Chuỗi cung ứng bao gồm các thành phần tham gia khác nhau thực hiện một quá trình chuyển dịch vật lý của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu đến điểm cuối. Một chuỗi cung ứng đơn giản gồm các thành phần pham gia trong một dòng chảy từ thượng nguồn là đến hạ nguồn: Nguồn cung ứng, Sản xuất, Phân phối, Bán lẻ, Tiêu thụ.
15 Chopra và Meindl (2001) khẳng định rằng chuỗi cung ứng bao gồm các quá trình dịch chuyển một chiều của hàng hóa và quá trình di chuyển 2 chiều của thông tin và tài chính giữa các nhà Cung ứng, Sản xuất, Phân phối, Bán lẻ, Khách hàng. Trong đó, khách hàng là đối tượng chính yếu mà chuỗi hướng đến vì mục đích chính của tất cả các chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận trong chuỗi đó.Sơ đồ chuỗi cung ứng Nguồn: Chopra và Meindl (2001) Bäckstrand(2007) chỉ ra rằng chuỗi cung ứng gồm các nhân tố cung ứng, sản xuất và khách hàng. Khách hàng ở đây có 2 dạng, một là khách hàng của nhà sản xuất tức là nhà phân phối mua sản phẩm từ nhà sản xuất và bán cho người tiêu dùng, hai là khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng mua sản phẩm để tiêu thụ. Trong chuỗi cung ứng này doanh nghiệp sản xuất là trung tâm của chuỗi, đồng thời cũng có chuỗi cung ứng dạng trong đó khách hàng là trung tâm của chuỗi.
Các nhân tố trong một chuỗi cung ứng trao đổi nguyên vật liệu, sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin để tạo ra giá trị cho khách hàng cuối cùng. Khi chuỗi cung ứng cótừ 3 lớp(tier) trở lên, những trao đổi này tạo thành một dòng chảy từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối hoặc ngược lại. Hướng của dòng chảy này được gọi là dòng thượng nguồn hoặc dòng chảy hạ nguồn(Womacket và cộng sự, 1990) 16 Hình 2.3 Dòng chảy thượng nguồn và hạ nguồn trong chuỗi cung ứng Nguồn: Bäckstrand (2007, tr.25) Dòng chảy về thượng nguồn không chỉ bao gồm thông tin và tài chính mà còn là sản phẩm hoặc nguyên vật liệu dưới dạng trả về. Chuỗi hạ nguồn hoặc kênh phân phối, bao gồm khách hàng của doanh nghiệp trung tâm và khách hàng của khách hàng của họ.
Dòng chảy về hạ nguồn là dòng chảy chính của sản phẩm hoặc nguyên vật liệu, mặc dù luồng thông tin cũng là quan trọng(Bäckstrand, 2007) Muckstadt và cộng sự (2001) mô tả một chuỗi cung ứng truyền thống như một dòng thác chảy qua một khoảng thời gian, qua nhiều đối tượng thuộc các tầng nấc khác nhau từ vị trí cao đến thấp (từ nhà cung ứng nguyên vật liệu đến khách hàng) của nguyên vật liệu và sản phẩm, những đối tượng này có địa chỉ vật lý cụ thể (Kho nguyên liệu, nhà máy sản xuất, cửa hàng bán lẻ…), Dòng chảy ở chiều ngược lại từ khách hàng đến nhà cung ứng là thông tin, tài chính và những đơn đặt hàng. Muckstadt đã mô tả một chuỗi cung ứng truyền thống ở Mỹ với công ty Levi Strauss sản xuất sản phẩm blue Jean và nhà cung ứng nguyên vật liệu là công tySwift và thông qua đối tác phân phối là JC Penney, JC Penney có hệ thống cửa hàng bán lẻ. Nguồn lực có được sẽ xác định vai trò của các thành viên trong chuỗi. Fisher (1997) mô tả các sản phẩm tương tự nhau có thể được sản xuất từ những chuỗi cung ứng khách nhau.
Những chuỗi cung ứng này phát triển theo thời gian phụ thuộc vào thị trường, công nghệ và nền kinh tế.4 Chuỗi cung ứng truyền thống Nguồn: Muckstadt và cộng sự (2001) Mentzervà cộng sự (2001) cho rằng một chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức có liên quan thông qua các liên kết ở thượng nguồn(cung cấp) và hạ nguồn(phân phối), trong các quy trình và hoạt động khác nhau tạo ra giá trị dưới dạng sản phẩm và dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng cuối cùng. Ở khía cạnh khác một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một bộ ba hoặc nhiều thực thể (tổ chức hoặc cá nhân) trực tiếp tham gia vào các dòng các sản phẩm, dịch vụ, tài chính, thông tin xuyên suốt từ thượng lưu đến hạ lưu và ngược lại. Bao gồm trong định nghĩa này, chúng ta có thể xác định 3 hình thái của chuỗi cung ứng từ đơn giản đến phức tạp là chuỗi cung ứng trực tiếp, chuỗi cung ứng mở rộng, chuỗi cung ứng cuối phức tạp. + Chuỗi cung ứng trực tiếp bao gồm một công ty, nhà cung cấp và khách hàng tham gia dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn của các sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin.5 Chuỗi cung ứng trực tiếp Nguồn: Mentzer và cộng sự (2001) + Chuỗi cung ứng mở rộng bao gồm các nhà cung cấp của các nhà cung cấp và khách hàng của khách hàng, tất cả liên quan đến dòng chảy sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ thượng nguồn đến hạ nguồn.6 Chuỗi cung ứng mở rộng Nguồn: Mentzer và cộng sự (2001) 19 + Chuỗi cung ứng phức tạp bao gồm tất cả các tổ chức tham gia vào dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn và ngược lại sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng.
Bên thứ ba cung cấp tài chính hoặc dịch vụ Logistic, và một công ty nghiên cứu thị trường đang cung cấp thông tin về khách hàng cho các công ty trong chuỗi.7 Chuỗi cung ứng phức tạp Nguồn: Mentzer và cộng sự (2001) Huynh Thi Thu Suong (2012) nhận thấy rằng chuỗi cung ứng là một mô hình liên kết giữa các nhân tố có 3 hoạt động cơ bản là Cung ứng, Sản xuất và phân phối. Trong đó, nhà Cung ứng nguyên liệu là nhân tố đầu tiên và là bắt đầu của chuỗi, nhà Sản xuất là nhân tố thứ 2 mua nguyên liệu từ nhà Cung ứng chuyển biến thành sản phẩm, và nhân tố thứ 3 là hệ thống các nhà phân phối và đại lý phân phối sản phẩm của nhà sản xuất đến tay khách hàng. Như vậy, tổng hợp các định nghĩa đã trích dẫn đã cho thấy một mô hình chung của chuỗi cung ứng là một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có các dòng chảy vật lý là sản phẩm, thông tin, tài chính, thông qua chuỗi để cung cấp thực thể là hàng hóa và dịch vụ đến người tiêu dùng cuối là khách hàng. Các nhân tố đó nằm trong 3 hoạt động động cơ bản: +Cung ứng: là hoạt động thu mua nguyên liệu như thế nào, với số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao, mua khi nào, mua ở đâu để phục vụ cho quá trình sản xuất.
20 + Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu đầu vào, bán thành phẩm từ nhà cung ứng thành sản phẩm cuối cùng. + Phân phối: là hành trình di chuyển của sản phẩm từ nhà sản xuất thông qua các hệ thống phân phối đến người tiêu thụ là khách hàng. Tóm lại, chuỗi cung ứng là các hoạt động của mọi đối tượng trong chuỗi từ cung ứng nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm và cung cấp sản phẩm đó cho người tiêu dùng, mục tiêu của chuỗi là đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tạo ra giá trị hữu dụng cho sản phẩm và tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi nhuận cho các thành viên trong chuỗi.2 Quản trị chuỗi cung ứng Dựa theo những nghiên cứu về chuỗi cung ứng, đặc biệt là quan điểm quản trị chuỗi cung ứng của Mentzer và cộng sự (2001), để các mối liên kết các nhân tố trong chuỗi bền chặt, các hoạt động của chuỗi diễn ra một cách tuần tự có hệ thống thì hoạt động quản trị chuỗi cung ứng không thể thiếu tiến trình, công đoạn nào trong chuỗi. Nghiên cứu này xin trích dẫn một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng(Supply Chain Management- SCM): Vorst (2004) xác nhận rằng quản trị chuỗi cung ứng là kế hoạch tích hợp, phối hợp và kiểm soát tất cả các quy trình kinh doanh và các hoạt động trong chuỗi cung ứng để cung cấp giá trị tiêu dùng cao cấp với chi phí ít hơn cho chuỗi cung ứng nói chung trong việc đáp ứng các yêu cầu của các bên liên quan khác trong chuỗi cung ứng.
James (2012) phát biểu rằng quản lý chuỗi cung ứng nhằm mục đích kiểm tra và quản lý mạng lưới chuỗi cung ứng. Lý do cho điều này là cơ hội để tiết kiệm chi phí và dịch vụ khách hàng tốt hơn. Mục tiêu quan trọng là nâng cao khả năng cạnh tranh của một công ty trên thị trường toàn cầu bất chấp các lực 21 lượng cạnh tranh gay gắt và kịp thờithay đổi nhu cầu của khách hàng (Langley và cộng sự, 2008). Lambert và cộng sự(1997) khẳng định rằng quản trị chuỗi cung ứng là quản lý hoạt động liên kết trong đó có sự chuyển dịch hàng hóa từ nguyên liệu thô đến người tiêu dùng cuối cùng, duy trì các lợi thế cạnh tranh.
Các hoạt động này bao gồm quản lý hệ thống, nguồn cung ứng và mua sắm, lên lịch sản xuất, xử lí đơn hàng, quản lý tồn kho, vận chuyển, kho bãi và dịch vụ khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứngcũng bao gồm hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi trong các lĩnh vực nghiên cứu Marketing, khuyến mãi, bán hàng, thu thập thông tin, nghiên cứu và phát triển, thiết kế sản phẩm, quản lý hoạt động phát triển sản phẩm, hoạt động sản xuất, dịch vụ khách hàng.