Chương 1: Trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu (tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, cấu trúc của nghiên cứu) 5 - Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về sự gắn kết với tổ chức, các yếu tổ ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức đồng thời xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. - Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu trong việc phát triển và kiểm định thang đo của các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết và ý định ở lại với tổ chức của nhân viên nòng cốt tại KPMG - Chương 4: Trình bày phân tích dữ liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận cho các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức cũng như mối quan hệ giữa sự gắn kết với tổ chức và ý định ở lại tổ chức của nhân viên nòng cốt và phân tích sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, thâm niên, giới tính và trình độ học vấn - Chương 5: Đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự gắn kết của nhân viên nòng cốt với Công ty, ý nghĩa của nghiên cứu đối với nhà quản trị, đồng thời trình bày những giới hạn của nghiên cứu và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 6 Chương 2 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm sự gắn kết của nhân viên nòng cốt với tổ chức 2.1 Khái niệm nhân viên nòng cốt Nhân viên nòng cốt được định nghĩa là lực lượng lao động thiết yếu và thường xuyên trong một tổ chức gồm các đặc tính sau: - Có kiến thức, kỹ năng và những phẩm chất phù hợp với hoạt động kinh doanh và có khả năng lãnh đạo. - Cung cấp các lợi thế cạnh tranh cho tổ chức (Allan & Sienko, 1997; Gramm & Schnell, 2001).
- Là trung tâm sản xuất và sống còn của tổ chức và có khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của công tác điều hành hệ thống trong tổ chức - Là nhân viên giữ vị trí từ cấp trưởng nhóm, và có thâm niên công tác trên 3 năm ở Công ty. Theo Lepak và Snell (1999) mô tả nhân viên cốt lõi của tổ chức hiện nay như nhân viên có giá trị cao, tính độc đáo cao, kỹ năng và kiến thức. Kiến thức của họ chính là nguồn gốc của giá trị cạnh tranh cho tổ chức. Nhìn chung, nhân viên nòng cốt được xem như là lao động thường xuyên (Segal và Sullivan, 1997), trong thị trường lao động chính, nhân viên cốt lõi trở thành một loại keo gắn kết tổ chức lại với nhau, kiến thức, kinh nghiệm và sự gắn kết của họ trở nên quan trọng đối với thành công của tổ chức (Janet 2004).2 Khái niệm sự gắn kết của nhân viên với tổ chức Sự gắn kết của người lao động (Employee Engagement) đã trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến.
Tuy nhiên, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự gắn kết của người lao động với tổ chức Mowday và cộng sự (1979) đưa ra định nghĩa Sự gắn kết với tổ chức là sức mạnh tương đối về sự 7 đồng nhất của nhân viên với tổ chức và sự tham gia tích cực của nhân viên trong một tổ chức nhất định’’. Theo đó, sự gắn kết bao gồm sự đồng nhất, sự cố gắng và lòng trung thành. Khái niệm này nói đến mối quan hệ tích cực với tổ chức khiến họ luôn sẵn sàng đầu tư công sức để đóng góp cho sự thành công và phát triển của tổ chức. Do vậy, sự gắn kết không chỉ xuất phát từ niềm tin và lời nói của nhân viên mà còn từ hành động thiết thực trong công việc.
Ritzer và Trice (1969) chứng minh mối quan hệ tích cực giữa chính sách đãi ngộ và sự gắn kết của nhân viên. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cho thấy hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến ảnh hưởng tích cực đến sự gắn bó với tổ chức. Theo Bartlett (2001), hoạt động đào tạo cũng có mối liên hệ tích cực với sự gắn bó của người lao động. Meyer và Smith (2000) nghiên cứu mối quan hệ giữa sự gắn kết và cảm nhận của nhân viên về đào tạo và phát triển nghề nghiệp, đánh giá năng lực thực hiện công việc và đãi ngộ.
Ulrich (2007) cho rằng sự đóng góp của nhân viên trở thành vấn đề quyết định trong kinh doanh bởi vì khi doanh nghiệp cố gắng tạo nhiều sản phẩm đầu ra hơn mà không phải tăng nhiều nhân viên, doanh nghiệp không có lựa chọn nào khác là phải tìm cách gắn kết nhân viên không chỉ là hiện diện thể chất tại nơi làm việc mà phải gắn kết cả về tâm trí và tinh thần. Schaufeli và Bakker( 2010) cho rằng sự gắn kết công việc có đặc điểm là sự thích thú với công việc, khác với việc nỗ lực gắng sức làm việc - đặc điểm của nghiện việc. Gắn kết công việc được định nghĩa là trạng thái tinh thần tích cực, thỏa mãn, có liên quan đến công việc được đặc trưng bởi các thuộc tính sự hăng hái cống hiến và say mê (Schaufeli và Bakker, 2010; Schaufeli và cộng sự, 2002). Gắn kết công việc bao hàm cả những trạng thái tinh thần thể hiện về suy nghĩ lời nói và hành động của nhân viên với công việc: đó là sự để tâm vào công việc, tận tụy với công việc, làm việc với niềm đam mê và nhiệt thành, cống hiến cho công việc, nỗ lực và đầy sinh lực làm việc.
8 Gắn kế được đề cập đến ở đây nhằm chỉ trạng thái tác động mang tính nhận thức và liên tục chứ không phải mang tính tức thời, không tập trung vào đối tượng, cá nhân hay sự kiện, hành vi nào. Ba yếu tố đo lường sự gắn kết công việc: - Yếu tố hăng hái: tràn đầy năng lượng và dành tâm trí làm việc. Sẵn sàng nỗ lực làm việc không ngừng ngay cả khi phải đối mặt với khó khăn. - Yếu tố cống hiến: dành trọn tâm trí vào công việc, cảm thấy công việc có ý nghĩa nhiệt tình, luôn tìm thấy cảm hứng, tự hào và thử thách với công việc.
- Yếu tố đam mê: hoàn toàn tập trung cho công việc và hạnh phúc khi dành hết thời gian cho công việc. Theo O'Reilly (1991) nói rằng sự gắn kết của tổ chức là "sợi dây liên kết về mặt tâm lý của cá nhân với tổ chức, bao gồm ý nghĩa của việc tham gia thực hiện công việc, lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức". Theo Robins & Judge (2013), có nhiều khái niệm nhưng nhìn chung động lực làm việc xoay quanh 03 yếu tố chính: cường độ (intensity), định hướng (direction) và sự kiên trì (persistance). Cường độ là chỉ mức độ nỗ lực làm việc chăm chỉ của một cá nhân.
Tuy nhiên, sự nỗ lực cao có thể sẽ không dẫn đến hiệu quả công việc nếu không có sự định hướng dẫn dắt từ lãnh đạo. Cuối cùng, động lực là có xu hướng kiên trì, tức là cá nhân có động lực sẽ gắn kết với nhiệm vụ, tổ chức một thời gian đủ dài để đạt được mục tiêu. Như vậy, tăng cường sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức chính là tăng cường động lực làm việc trong đó tập trung vào 2 yếu tố quan trọng là sự định hướng (vai trò của người lãnh đạo, quản lý) và sự kiên trì (vai trò của việc nuôi dưỡng động lực và các yếu tố tác động khác: môi trường làm việc, tính chất công việc, quan hệ đồng nghiệp) Theo tài liệu nghiên cứu của trường Dale Carnegie (2008) cũng như nghiên cứu của Schaufeli và Bakker thì một tổ chức có sự gắn kết của người lao động đồng nghĩa với một môi trường làm việc mà trong đó: 9 - Bản thân người lao động cảm thấy muốn gắn kết với tổ chức. - Người lao động cảm thấy tự hào khi giới thiệu công ty với mọi người.
- Người lao động gắn kết với công ty vì nhiều giá trị khác chứ không chỉ vì lương bổng. - Người lao động cảm thấy gắn kết với hình ảnh công ty cũng như các giá trị đạo đức của công ty Như vậy không có một khái niệm nhất quán về sự gắn kết của người lao động với tổ chức, nhưng ai cũng đồng ý rằng một tổ chức có sự gắn kết của người lao động đồng nghĩa với một môi trường làm việc trong đó: Bản thân người lao động cảm thấy muốn ràng buộc với tổ chức; cảm thấy tự hào khi giới thiệu công ty là môi trường tốt và nơi mọi người nên vào làm việc; cảm thấy gắn kết với công ty sẽ mang lại nhiều điều quý giá chứ không chỉ gói gọn trong lương bổng; cảm thấy gắn kết với những giá trị, đạo đức và hành động đại diện cho hình ảnh công ty.2 Tầm quan trọng của sự gắn kết giữa nhân viên đối với tổ chức Trong xã hội phát triển, các cơ quan, tổ chức đều nhận thức được rằng sử dụng người tài mới có thể tăng cường hiệu quả và thế mạnh cạnh tranh của tổ chức, nói cách khác, người tài là phương tiện để tăng cường lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Stone (2002), mất đi những nhân viên tài năng làm việc với hiệu quả cao đồng nghĩa với việc tổ chức phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để thay thế người làm, chưa kể tiền lương. Somaya và Williamson (2008) cũng dẫn ra số liệu tương tự cho thấy chi phí tuyển dụng thay thế có thể lên đến 100-150% so với chi phí lương cho nhân viên làm việc hiệu suất cao với các kỹ năng chuyên biệt.
Các tổ chức cũng phải chịu tổn thất từ việc tuyển người thay thế, bởi vì mỗi nhân viên khi chuyển đi mang theo các giá trị thuộc về nguồn vốn con người, các kiến thức, kỹ năng và cả các bí quyết của tổ chức. Như vậy, cần lưu ý rằng: mất đi những nhân viên tài năng gây tổn thất nhiều hơn so với những 10 thiệt hại tính được bằng tiền, làm sa sút trí lực của tổ chức, giảm đi khả năng hoạt động và làm tổn thương ý chí chiến thắng. Tầm quan trọng của việc quản lý nhân tài được Bhanagar (2007), chỉ ra như sau: môi trường làm việc tạo được sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa những người có tài sẽ thúc đẩy tổ chức, cơ quan đầu tư nhiều vào các hoạt động về tài năng; đầu tư không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt về nguồn lực mà còn đảm bảo hệ thống lãnh đạo bền vững trong tương lai.