Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày về lý do, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cũng như phạm vi, phương pháp nghiên c ứu của đề tài, và cấu trúc của bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nêu các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu.
Đồng thời, nêu các kết quả thực nghiệm của những nghiên cứu trước trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp, từ đó rút ra nhận xét, so sánh, đ ề xu ất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trình bày phương pháp luận, bao gồm các bước, quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu. 5 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trình bày về phân tích dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu, thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị. Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn c ủa đ ề tài và đ ề xu ất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào th ực ti ễn, h ạn ch ế c ủa đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm và lý thuyết liên quan.
Đ ồng thời, nêu các kết quả thực nghiệm của những nghiên cứu trước trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp, từ đó rút ra nh ận xét, so sánh, đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ KHỞI NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC CNTT TẠI TP.HCM Hiện nay, môi trường khởi nghiệp Việt Nam còn khá non tr ẻ so v ới thế giới. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có nhiều tiềm năng để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp một cách mạnh mẽ như Việt Nam vẫn còn đang trong cu ối thời kì dân số vàng, nền kinh tế đang phát triển, hơn nửa triệu doanh nghiệp đang hoạt động, hàng trăm trường đại học và trung tâm nghiên cứu đang hoạt động trên khắp cả nước. Công nghệ thông tin đã bắt đầu và từng bước phát triển ở Việt Nam hơn 10 năm qua, với những thương hiệu đầu tiên khởi nghiệp và đã gặt hái được một số thành công nhất định trong lĩnh vực này như FPT, Vina Game, Vcorp, Vật giá đến Tiki, Vietnamwork,….
Cho đến nay, các s ản ph ẩm thương mại điện tử, trang giáo dục, việc làm, ăn uống, mua s ắm, thi ết b ị công nghệ… đã dần quen thuộc với người tiêu dùng. Ở nước ta, so với các ngành khác, không quá khó để tìm kiếm cơ hội khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Bởi, đây là lĩnh vực đầy tiềm năng, đã và đang đ ược Chính phủ tạo rất nhiều điều kiện phát triển trong thời gian gần đây. Theo Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên Khởi nghiệp (BSSC), bất chấp những khó khăn, Việt Nam vẫn nằm trong "top" 3 thị trường khởi nghi ệp phát triển mạnh tại khu vực Đông Nam Á trong nh ững năm g ần đây.
Th ị trường khởi nghiệp Việt Nam đang diễn biến đầy sức sống và ti ềm năng, 7 chứng kiến sự trỗi dậy của một thế hệ doanh nhân ngày càng trẻ, thành công sớm, nhanh và hướng đến sự bền vững, hòa nhập với xu hướng khởi nghiệp khu vực và thế giới.HCM tiếp tục đưa ra các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp theo nhiều hình thức khác nhau, từ hỗ trợ vốn cho tới tư vấn, hướng dẫn kh ởi nghiệp… trong năm 2017. Bên cạnh việc hình thành hệ sinh thái kh ởi nghiệp với sự hợp tác từ các hiệp hội ngành nghề, sẽ có thêm không gian đổi mới sáng tạo cho cộng đồng khởi nghiệp. Theo Sở Khoa học và Công nghệ (KHCN) TP.HCM hiện đã hình thành các không gian khởi nghiệp, bao gồm Trung tâm hỗ tr ợ kh ởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (Saigon Innovation Hub), Khu công nghệ phần mềm thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM (ITP), Khu hỗ trợ khởi nghiệp SHTP Innovation Hub thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP)…Đây chính là nguồn lực hỗ trợ cho các startup (khởi nghiệp) về cơ sở hạ tầng, mặt bằng làm việc của TP. Bên cạnh đó, các không gian hỗ trợ khởi nghiệp này còn có sự liên kết với các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề, trường đại học, viện nghiên cứu… với khoảng 50% nguồn vốn xã hội hóa, được đóng góp từ các doanh nghiệp.
Đồng thời, TP.HCM cũng đưa ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho khởi nghiệp với nhiều chương trình đào tạo, tư vấn, nâng cao năng lực… dành cho các trường đại học, nhà quản lý, doanh nghiệp. Trong năm 2017, Saigon Innovation Hub đã phối hợp với Chương trình Đối tác đ ổi mới sáng tạo Việt Nam-Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2) tổ chức các khóa đào tạo giảng viên nguồn về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại TP.HCM; t ạo nguồn lực đào tạo… Sở KHCN đã phối hợp với nhiều tổ chức, doanh nghiệp xây d ựng mạng lưới 145 chuyên gia tư vấn, cố vấn khởi nghiệp trong lĩnh v ực đ ổi 8 mới sáng tạo thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Các startup, doanh nghiệp mới đã được đội ngũ chuyên gia tư vấn chuyên môn về cách th ức đăng ký sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, theo các chuyên gia hỗ tr ợ ho ạt động khởi nghiệp, phần lớn các startup ở Việt Nam vẫn đang ở giai đo ạn hạt giống (seed), quy mô kinh doanh còn nhỏ, khả năng tăng tr ưởng thấp… Do đó, với sự hỗ trợ từ hệ sinh thái khởi nghiệp, hoạt đ ộng h ỗ tr ợ từ các hiệp hội doanh nghiệp sẽ góp phần gia tăng t ỷ l ệ th ương m ại hóa của các dự án khởi nghiệp.
Sự hỗ trợ từ hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ giúp cho các cá nhân, nhóm. có dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đẩy nhanh tiến độ hiện thực hóa ý tưởng. Với sự hỗ trợ của cộng đồng khởi nghi ệp, các dự án khởi nghiệp có thể rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 2.
Khái niệm về Công nghệ thông tin Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật s ử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác gi ả của bài viết, Leavitt và Whisler (1958) đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin”.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: “Công ngh ệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương ti ện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ 9 chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các ngu ồn tài nguyên thông tin r ất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao g ồm quá trình ti ếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn b ản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Khái niệm về Khởi nghiệp kinh doanh Khởi nghiệp kinh doanh (KNKD): là việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác) tận dụng cơ hội kinh doanh mới (Nguyễn Th ị Thu Thủy, 2015), hoặc là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại (Bird, 1988). Khởi nghiệp, (tiếng Anh: Startup) là thuật ngữ nói về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp.
Theo quy định trong bản dự thảo Luật hỗ trợ doanh nghi ệp nh ỏ và vừa được Chính Phủ trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2 Quốc H ội khoá 14, nhiều khái niệm chưa từng xuất hiện trong luật bắt đầu được “luật hoá”. Trong đó khái niệm “startup” được định nghĩa trong d ự th ảo này là “khởi nghiệp sáng tạo”. Tại khoản 9 điều 3 Dự thảo nêu: Kh ởi nghiệp sáng tạo (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên vi ệc t ạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, gi ải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá tr ị gia tăng c ủa s ản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Khái niệm Ý định khởi nghiệp Theo Krueger (2003), ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi.
Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ 10 thực hiện trong tương lai (Krueger, 1993). Có rất nhiều đ ịnh nghĩa khác nhau của các tác giả về ý định khởi nghiệp kinh doanh, tuy nhiên chúng đều thống nhất về mặt nội hàm. Theo Krueger (1993), ý định khởi nghiệp kinh doanh là cam kết khởi sự bằng việc tạo lập doanh nghi ệp m ới. Shapero và Sokol (1982) cho rằng những người có ý định khởi nghiệp kinh doanh là những cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn mà họ nhận biết được.
Hành động khởi nghiệp sẽ diễn ra nếu một cá nhân có thái độ tích cực, có suy nghĩ, ý định về hành động đó. Một ý định mạnh mẽ là tiền đề dẫn tới nỗ lực để bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh. Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi Krueger và Brazeal (1994), hai tác giả cho rằng người có ý định khởi sự kinh doanh sẽ là người chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động cần thiết khi họ nhận thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh. Ý định khởi nghiệp còn có thể được định nghĩa là sự liên quan đến suy nghĩ quyết định để bắt đầu m ột công vi ệc kinh doanh của một cá nhân (Souitaris & cộng sự, 2007); là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo l ập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007).