CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ CƠ SỞ CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI Ở TRUNG QUỐC 1. Những vấn đề lý luận chung về chính sách thu hút FDI 1. Khái niệm và vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển 1. Khái niệm FDI Ngày nay, trong phạm trù đầu tư kinh tế thì đầu tư quốc tế là một mảng lớn và rất quan trọng do dòng luân chuyển các nguồn lực sản xuất vật chất vượt ra khỏi biên giới các nước trở nên tất yếu.
Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ thuật, khả năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu. Đầu tư quốc tế được biểu hiện chủ yếu dưới hai hình thức cơ bản là đầu tư nước ngoài gián tiếp (Portfolio Foreign Investment – PFI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI). Trong hai hình thức kể trên của đầu tư quốc tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được các nhà kinh tế rất chú trọng và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Người Trung Quốc cho rằng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tư bản tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác, là để có được hoặc tăng thêm “quyền cầm cái” trong thực thể kinh tế mà nó có ảnh hưởng ấy. Như vậy đầu tư trực tiếp phản ánh quan hệ quốc tế về sản xuất rất sâu sắc.
Krugman, Paul & Obstfeld thì cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư vốn của doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp ở quốc gia khác, hoặc mua cổ phiếu khống chế của doanh nghiệp ở quốc gia khác nhằm dành quyền kiểm soát có hiệu quả trong việc quản lý trực tiếp tài sản, vốn hoạt động đó. 6 Theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức sản xuất kinh doanh. FDI hiện nay được thực hiện thông qua những loại hình chủ yếu là: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), doanh nghiệp liên doanh (EFV), doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOE), hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) và xây dựng – chuyển giao (BT). Bản chất của FDI chính là việc chủ đầu tư người nước ngoài đầu tư vốn, tài sản, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vào một quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận và bành trướng thế lực kinh tế.
Người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Về mặt lý luận một số lý thuyết đã lý giải sự xuất hiện của hoạt động FDI là: Lý thuyết lợi nhuận cận biên, lý thuyết chu kỳ sản phẩm, lý thuyết chiết trung (mô hình OLI), lý thuyết mô hình đàn sếu bay, lý thuyết phân tán rủi ro… Sự luân chuyển các nguồn lực của sản xuất vật chất hiện nay trên thế giới ngày càng nhiều vẻ trong đó hoạt động FDI không ngừng được mở rộng, mang tính đa dạng và chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu. Hoạt động đầu tư quốc tế nói chung và hoạt động FDI nói riêng có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của cả hai phía: nước đầu tư và nước nhận đầu tư, đặc biệt nếu nước nhận đầu tư là một nước đang phát triển như Việt Nam hoặc Trung Quốc thì FDI có tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển 7 Xét bình diện toàn cầu, đầu tư quốc tế luôn cho phép tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất trong phạm vi thế giới.
Kết luận này được khẳng định nhờ luận cứ từ lý thuyết phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn FDI có ý nghĩa vô cùng quan trọng: - Tác dụng lớn nhất của FDI là tăng nguồn vốn cho nền kinh tế, tăng tích lũy cho nền kinh tế và bù đắp lỗ hổng ngoại tệ. - FDI là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ở các nước đang phát triển, đưa lại luồng sinh khí mới cho các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc. - FDI còn có thể kéo theo đầu tư trong nước.
- FDI tạo điều kiện cho nước sở tại tiếp thu kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. - FDI giúp phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm cho nước nhận đầu tư. - FDI giúp các nước đang phát triển mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất nhập khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Nước nhận đầu tư là nước đang phát triển có thể phải chịu một số thiệt thòi như: các ngành công nghiệp mới, công nghệ cao và kết cấu kinh tế có thể bị nước đầu tư kiểm soát.
Và đôi khi các nước này bị nước chủ đầu tư biến thành “túi” đựng những ký thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao năng lượng nhiều gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cạn kiệt tài nguyên. Ở thời kỳ đầu tiếp nhận nguồn vốn từ bên ngoài, do thiếu kinh nghiệm rất có thể doanh nghiệp của nước chủ nhà sẽ trở thành nơi rửa tiền của tội phạm quốc tế. Ngoài ra, do yêu cầu của công nghệ cao và hiện đại cho nên gần đây các công ty xuyên quốc gia (Trans National Cooperation – TNCs), vốn là những 8 nhà đầu tư chủ yếu vào các nước đang phát triển, có xu hướng ít sử dụng lao động tại chỗ để hạ giá thành sản phẩm mà thay vào đó họ sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn. Điều đó gây khó khăn cho chiến lược việc làm của các nước chủ nhà.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có thể là nguyên nhân gia tăng những bất ổn như phân hóa xã hội, thất nghiệp, không bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh quốc gia, mất cân đối trong cơ cấu kinh tế… Tóm lại, trong thu hút FDI, các nước chủ nhà đang phát triển vừa được lợi, vừa có thể bị thiệt. Nhằm kết hợp hài hòa lợi ích, đồng thời giảm thiểu thua thiệt cần có chính sách, chiến lược thu hút FDI hợp lý, linh hoạt. Khái niệm và nội dung của chính sách thu hút FDI 1. Khái niệm Chính sách thu hút FDI là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại nhằm điều chỉnh các hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia.
Chính sách thu hút FDI được thể hiện cụ thể thành một hệ thống các chính sách, các quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các công cụ, biện pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Nhà nước của một quốc gia áp dụng trong từng thời kỳ nhất định nhằm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách thu hút FDI là một trong những yếu tố quan trọng quyết định độ hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài. Hình thức thể hiện của chính sách thu hút FDI là các văn bản pháp luật và các quy định hướng dẫn hoạt động FDI. Nhìn vào hệ thống các chính sách này có thể thấy được mức độ bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, độ thông thoáng, hợp lý, hấp dẫn của môi trường đầu tư tại nước chủ nhà.
Nội dung chính sách thu hút FDI 9 Trong quá trình xây dựng chính sách thu hút FDI, xuất phát từ lợi ích và kỳ vọng của hai phía (đầu tư và nhận đầu tư) các quốc gia thường tập trung nội dung của chính sách ở hai mảng lớn: Chính sách bảo đảm đầu tư hàm chứa các vấn đề về sở hữu, tỷ lệ góp vốn, hình thức, lĩnh vực, địa bàn, thời hạn, định hướng đầu tư… và chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư (bao gồm các vấn đề về thuế, đất đai, chính sách hỗ trợ khác: giá, thị trường, tài chính…) Trong chính sách bảo đảm đầu tư, một trong những vấn đề được các nước nhận đầu tư, đặc biệt các nước đang phát triển quan tâm là tỷ lệ sở hữu vốn giữa trong nước và nước ngoài. Tỷ lệ này có thể không giống nhau ở các nước khác nhau tùy thuộc vào quan điểm và mục tiêu của mỗi nước trong từng thời kỳ. Ở Việt Nam không hạn chế mức phải góp vốn tối đa nhưng mức tối thiểu phải trên 30% (Điều 8, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi) – 1996). Chính sách bảo đảm đầu tư nước ngoài ở nước ta được ghi ngay trong điều đầu tiên của Luật đầu tư nước ngoài năm 1987: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của các nhà đầu tư nước ngoài”.
Nội dung chi tiết được cụ thể hóa trong chương 3 của Luật (1996) với các điều từ 20 đến 24 về biện pháp bảo đảm đầu tư nước ngoài. Qua các lần sửa đổi, chính sách này vẫn luôn được khẳng định rõ ràng. Mảng chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư bao gồm các chính sách về đất đai, chính sách thuế và ưu đãi tài chính, chính sách lao động, chính sách cơ cấu, các chính sách hỗ trợ khác như chính sách giá, thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng… 1. Nguyên tắc hình thành và vai trò của chính sách thu hút FDI Là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại, việc xây dựng chính sách thu hút FDI trước hết phải căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của quan hệ kinh tế quốc tế như: nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Đồng thời cũng phải 10 căn cứ vào các lý thuyết hình thành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.