Chương 1:Những vấn đề lý luận cơ bản về chứng thực và thi hành pháp luật về chứng thực Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. 5 Chương 01 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỨNG THỰC VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC 1. Khái niệm, đặc điểm về chứng thực 1. Khái niệm Chứng thực là thuật ngữ phức tạp, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Trước đây, chỉ có thuật ngữ “công chứng”, phải đến khi các Nhà nước dân chủ phát triển, thuật ngữ “chứng thực” mới được hình thành và có sự tách bạch tương đối đối với thuật ngữ “công chứng”. Dưới góc độ ngôn ngữ, thuật ngữ “chứng thực” trong tiếng Anh là “attest” tạm dịch là “để hiển thị, nói hoặc chứng minh rằng một cái gì đó tồn tại hoặc là sự thật”[37]. Theo từ điển pháp luật và bách khoa toàn thư pháp lý WEX - Trung tâm Khoa học pháp lý - Trường Luật Cornell, chứng thực được hiểu là: “Attestation is a kind of testimony or confirmation. It is customary to sign a deed, make a will or sign other written documents in the presence of a witness who also signs the document to attest to its contents and the authenticity of the party's signature.
In most cases, this practice is only for the purpose of preserving evidence and does not in itself constitute the substance of the document. For example, a witness attests a will by signing it; their signature may confirm, inter alia, that they witnessed the testator sign the will” [38]. Tạm dịch: Chứng thực là một loại lời khai hoặc xác nhận. Theo thông lệ, người ta sẽ ký chứng thư, lập di chúc hoặc ký các văn bản khác với sự có mặt của một nhân chứng, người này cũng ký vào văn bản để chứng thực nội dung của nó và tính xác thực của chữ ký của một bên.
Trong hầu hết các trường hợp, cách làm này chỉ nhằm mục đích bảo quản bằng chứng và bản thân nó không phải là nội dung của tài liệu. Ví dụ, một nhân chứng chứng thực di chúc bằng cách ký tên vào đó, Chữ ký của họ có thể xác nhận, trong đó có những nội dung khác, rằng họ đã chứng kiến người lập di chúc ký di chúc. Ngoài ra, định nghĩa về chứng thực được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện khoa học xã hội vùng Nam bộ đó là “Xác nhận là đúng sự thật” [34]. Dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện nay các quan niệm về chứng thực trong khoa học pháp lý của các quốc gia có sự khác nhau.
Do đó, để có thể hiểu khái niệm về chứng thực cần thông qua việc tìm hiểu các quan niệm về chứng thực cũng như là các khái niệm tương ứng trong khoa học pháp lý nước ngoài. - Quan niệm của khoa học pháp lý các nước về chứng thực: Trong khoa học pháp lý của một số nước dưới đây cũng có những khái niệm tương đồng với khái niệm “chứng thực” trong tiếng Việt và một số các quốc gia trên thế giới vẫn chưa có sự tách bạch rành mạch giữa pháp luật về công chứng và pháp 6 luật về chứng thực như ở Việt Nam. Theo Luật Công chứng ngày 14/02/1991 của Cộng hà Ba Lan định nghĩa công chứng thị thực được hiểu là một dạng của thị thực hành chính, có nội dung như chứng thực tương tự với của Việt Nam, trong đó bao gồm: bản sao, chữ ký, bản sao trích từ bản gốc, ngày xuất trình tài liệu, một người còn sống, nơi ở của một người. Bên cạnh đó, khi công chứng viên thực hiện thị thực bản sao, công chứng viên đó phải thực hiện đối chiếu bản sao với bản gốc.
Nếu trường hợp bản gốc có những chi tiết đặc biệt như: chữ bị gạch xóa, ghi nhớ bên lề hoặc bị khuyết thì công chứng viên phải ghi rõ những trường hợp đó [39]. Theo điều 39 của Luật công chứng ngày 28/09/1969 của Cộng hòa Liên bang Đức quy định về việc chứng thực đơn giản. Theo đó, khi thực hiện chứng thực chữ ký, dấu vân tay, tên hãng cũng như khi chứng thực thời điểm xuất trình giấy tờ cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục và các văn bản đơn giản khác thì chỉ cần một văn bản công chứng (không cần biên bản công chứng). Trong văn bản công chứng đó có chữ ký, dấu niêm phong và ghi rõ ngày, địa chỉ nơi lập văn bản đó.
Ngoài ra, tại điều 40 của Luật công chứng kể trên tại khoản 1,2,3, cũng quy định về chứng thực chữ ký như sau: “Một chữ ký chỉ được chứng thực bởi công chứng viên biết chữ ký hoặc lấy được chữ ký đó; Công chứng viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây phương hại đến việc hành nghề của mình; Khi chứng thực phải khái quát nhân thân đương sự - người mà công chứng viên biết hoặc lấy được chữ ký và phải nói rõ là công chứng viên biết trước chữ ký hay vừa lấy chữ ký”.Bên cạnh đó,tại khoản 01 điều 42 của Luật trên cũng quy định về chứng thực bản sao: “ Khi chứng thực bản sao một văn bản cần xác định đó là bản chính” [35]. Có thể thấy rằng, tại Cộng hòa Liên bang Đức chỉ đưa ra được thuật ngữ về chứng thực gắn với những việc làm cụ thể và chưa đưa ra được cách hiểu về chứng thực nói chung. Tại Liên bang Nga, Luật Công chứng ngày 11/02/1993 quy định công chứng viên được thực hiện các hành vi sau: Xác thực việc thực hiện một ý chí, để thực hiện các biện pháp để bảo vệ di sản và quản lý phù hợp, chỉ ra các bản sao trung thành của tài liệu và các chiết xuất từ nó, cho biết tính xác thực của chữ ký trên tài liệu,. Đối với các Viên chức lãnh sự quán Nga được thực hiện các hành vi công chứng sau đây: Xác thực các giao dịch, trừ trường hợp hợp đồng chuyển nhượng bất động sản nằm trên lãnh thổ của Liên bang Nga, thực hiện các biện pháp để bảo vệ di sản, cấp giấy chứng nhận thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với một phần khối tài sản chung của vợ chồng, xác nhận tính xác thực của các bản sao của tài liệu và các chiết xuất của nó, cho biết tính xác thực của chữ ký trên tài liệu, cho biết độ chính xác của bản dịch các văn bản từ một ngôn ngữ khác, xác nhận danh tính của công dân với người được miêu tả trong các bức ảnh,.
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng các quốc gia Liên bang Nga, Ba Lan, Đức 7 có điểm chung là không tách bạch rõ ràng giữa công chứng và chứng thực. Biểu hiện qua việc Luật điều chỉnh đa phần đều có tên là Luật công chứng, chứng thực hoặc có luật có tên là công chứng nhưng nội dung điều chỉnh về cả công chứng lẫn chứng thực. Theo đó, thường người thực hiện công chứng và chứng thực có thể hoán đổi vị trí trong từng trường hợp cụ thể. Công chứng viên cũng được Bộ Tư pháp bổ nhiệm còn người đứng đầu xã hoặc nhân viên thư ký các xã thực hiện chứng thực.
Các việc về chứng thực khá đa dạng, ngoài chứng thực bản sao, bản dịch, chữ ký còn có một số việc khác xác nhận rằng công dân đang sống, một công dân ở một nơi nhất định, xác nhận danh tính của một công dân với người được miêu tả trong bức ảnh, ngày xuất trình tài liệu,. Bên cạnh đó, đa phần các quốc gia cũng đều quy định công chứng viên hoặc người thực hiện chứng thực không được thực hiện hoạt động công chứng hoặc chứng thực đối với người thân ở tất cả các ngôi thứ thuộc hàng trực hệ và họ hàng trong phạm vi ba đời nếu là một trong các bên đương sự hoặc là một người có chung quyền lợi. - Thuật ngữ chứng thực tại Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi Nghị định 23/2015/NĐ - CP được ban hành [35] Ở nước ta, trong giai đoạn năm 1945, thuật ngữ “chứng thực” chưa được sử dụng và được thay thế bằng thuật ngữ “thị thực”. Trong Sắc lệnh 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa về thể lệ việc thị thực các giấy tờ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ “thị thực” mà không sử dụng thuật ngữ “chứng thực”. Theo quy định của Sắc lệnh trên: “Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc tịch nào. Tuy nhiên, Ủy ban thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một bên đương sự lập ước và về việc bất động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại bất động sản.” Sau này, thuật ngữ “chứng thực” lần đầu tiên được xuất hiện trong Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987. Thông tư trên được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng.
Theo quy định của Thông tư trên: Công chứng viên có có thể chứng thực chữ ký của người lập ra các giấy tờ, đơn từ có nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa. Công chứng viên không phải kiểm tra, xác nhận nội dung của việc trong giấy tờ, đơn từ đó mà chỉ phải xác định nội dung các giấy tờ, đơn từ đó có thuộc trường hợp trái quy định pháp luật hay không. Ngoài ra trường hợp thấy nội dung và các sự việc được nêu tại giấy tờ, đơn từ có thể gây hại cho người ký thì công chứng viên phải giải thích cho các bên đương sự hiểu về hậu quả pháp lý của vấn đề đó. Sau khi đã kiểm tra chữ ký của đương sự, công chứng viên phải yêu cầu đương sự ký vào giấy tờ, đơn từ và ghi chứng thực theo mẫu quy định.
Đến giai đoạn năm 2000, Nghị định 75/2000/NĐ - CP về công chứng, chứng thực được ban hành, khái niệm về chứng thực đã được định nghĩa tại khoản 02 điều 02 của Nghị định trên: “chứng thực là việc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ 8 cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này. Tuy nhiên, khái niệm trên đã không còn phù hợp do Nghị định 75/2000/NĐ - CP đã hết hiệu lực thi hành.