Chương 1 giới thiệu van dé nghiên cứu, xác định mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 xây dựng cơ sở nghiên cứu, giới thiệu những nghiên cứu đã thực hiện, xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, dé xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, xây dựng phương pháp nghiên cứu để đạt được mục tiêu nghiên cứu, thiết kế thang đo dé đo lường các khái niệm nghiên cứu. Chương 4 triển khai kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả thống kê của nghiên cứu sau khi thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu, trình bày kết quả kiếm định của mô hình lý thuyết và kiểm định giả thuyết của mô hình.
Chương 5 phát biểu kết luận và hàm ý quản lý, tóm tắt những kết quả chính, đóng góp và hàm ý của nghiên cứu cũng như hạn chế của nghiên cứu, và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. HVTH: Võ Hoang Duy Luận văn thạc sĩ 15 GVHD: TS Nguyễn Thúy Quynh Loan CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2. CAC KHAI NIEM Sách chuyên ngành là tat cả những loại sách của chương trình đại cương (toán, lý, hóa, triết học, CNXH, kinh tế chính trị, tư tưởng HCM v.), chương trình cơ sở chuyên ngành và chương trình chuyên ngành dùng để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu ở DHBK, bao gồm tat cả những loại sách giáo trình, tap chí chuyên ngành hoặc tài liệu tham khảo. Doc là một quá trình phức tap ma người doc tái cau trúc đến mức độ nào đó những thông điệp được mã hóa với người viết băng ngôn ngữ hình tượng.
Đọc là quá trình nhận thức và hiểu ý nghĩa của những biểu tượng được viết ra (New Standard Eneylopedia). Đọc là khả năng nhận thức và kiểm định những câu từ và hiểu những thông tin bên chứa đựng trong những ngôn từ đó. Đọc là một quá trình nhận thức của việc hiểu những thông điệp ngôn ngữ được viết ra và để xem xét và hiểu thấu những kỹ tự, từ ngữ hoặc câu cú (Lone, 2011). Thói quen là sản phẩm của hành động hoặc học tập được lặp đi lặp lại theo thời gian.
Thói quen là một hành động được học hỏi hoặc một dạng của hành vi mà lặp đi lặp lại thường xuyên dé trở thành một phản ứng tự động với đối với những yếu tố kích thích. (New standard Encylopedia) Theo Sangkaeo (1999), thói quen đọc sách là hành động đọc sách được lặp đi lặp lại thé hiện sự ưa thích và sở thích đọc của cá nhân. Thói quen đọc sách cũng được định nghĩa là khuynh hướng hành đọc đã xác lập và được đo bằng sỐ lượng tài liệu được đọc và thời gian dành cho việc đọc (Mngoma, 1997). Trong nghiên cứu này, thói quen đọc sách được định nghĩa là sự lặp đi lặp lại hành vi đọc sách chuyên ngành kỹ thuật của sinh viên, được đo bằng thời gian dành cho việc đọc hằng ngày, số lượng sách đã đọc năm ngoái, và số lượng sách đang sở hữu của sinh viền.
GIỚI THIỆU MÔ HÌNH THAM KHẢO Trong bai báo “A model for the study of reading in agriscience”, Park và Osborne (2007) đã dé xuất một mô hình mẫu dé nghiên cứu việc đọc ở ngành nông học được trình bày ở Hình 2. Giáo viên và ngữ cảnh ảnh hưởng đến việc đọc của sinh viên. Nhận thức của giáo viên về việc đọc, thói quen đọc của cá nhân, kỷ vọng về việc đọc, kiến thức của chiến lược đọc và sự chuẩn bị của giáo viên về nội cung của chiến lược đọc ảnh HVTH: Võ Hoang Duy Luận văn thạc sĩ 16 GVHD: TS Nguyễn Thúy Quynh Loan huong dén năng lực đọc cua học viên. Giáo viên, người thể hiện giá tri đọc trong lớp thông qua việc đọc cá nhân, mô hình hóa việc đọc ảnh hưởng để khả năng đọc và thúc đây việc đọc của sinh viên theo hướng tích cực.
Ngữ cảnh trong ngành nông học bao gồm sinh viên, môi trường và tài liệu đọc. Teacher Interactions > Outcomes Attitude ." en Expectations | Personal Reading Knowledge of Strategies Context Teacher Preparation —_ = “ Student Environment Tea ` Ability ' Home ` ‘Readability’ Interest & Motivation Classroom Vocabulary Prior Knowledge School Structure Age / Experience Content Selection Hinh 2.1: M6 hinh cua Park & Osborne (2007) e Biến giao vién bao gom thái độ đối với việc doc, kiến thức của giáo viền, mức độ đọc của giáo viên, yêu cầu đọc sách của giáo viên cho sinh viên. e Biến đặc điểm sinh viên có thé là kha năng đọc, sự quan tâm và động cơ đọc, kiến thức cá nhân, giới tính e Biến môi trường bao gôm môi trường ở nhà, ở lớp và ở trường. e Biến thuộc tính của tài liệu đọc bao gom sự dé đọc của tài liệu, từ vựng sử dụng, cau trúc tài liệu, nội dung, tác giả của tài liệu.
Bài báo của hai tác giả được thực hiện dựa trên sự tong hợp những bai bao nghiên cứu trước đây và dé ra xuất mô hình. Do đó mô hình này chưa được chứng minh bang kết quả định lượng. Vì vậy luận văn này sẽ dùng mô hình này làm mô hình ý tưởng cho nghiên cứu, kết hợp những dữ liệu định lượng để phân tích và kiểm định những biến độc lập và phụ thuộc của mô hình nghiên cứu. NHUNG NGHIÊN CỨU ĐÃ THUC HIEN 2.
Thoi quen doc sach Tan suất đọc là tiêu chuẩn được sử dụng nhiều nhất để đo thói quen đọc sách (Yilmaz, 2009). Tac gia Wanjari & Mahakulkar (2011) đo thói quen đọc sách của sinh viên băng việc có đọc hăng ngày hay không, có đọc báo hang ngày hay không, có đọc tạp chí hằng ngày hay không và thời gian dành để đọc hăng ngày. Theo McKool (2007), những người ham đọc sách đọc một cách tự nguyện trung bình 46 phút mỗi ngày trong khi những người đọc miễn cưỡng đọc 3 phút mỗi ngày. HVTH: Võ Hoang Duy Luận văn thạc sĩ 17 GVHD: TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan Nghiên cứu thói quen đọc sách của 142 sinh viên khoa Kinh doanh Đại học Hampton, tác giả Braguglia (2005) phát hiện hơn 63% sinh viên dành thời gian ít hơn 2 giờ mỗi tuần cho việc đọc sách giải trí.
Sinh viên đọc giáo trình chủ yếu và đọc những bai báo liên quan đến kinh doanh qua internet mỗi tuân | lần, dé thư giãn sinh viên đọc tạp chí chuyên ngành kinh doanh, báo và tuần báo. Sinh viên không dành thời gian nhiều cho việc đọc sách cả ở trường và ở nhà. Thói quen đọc sách của sinh viên được hình thành trước khi vào đại học. Sinh viên đọc 1 đến 2 quyền sách trong một tháng nhưng đa số sinh viên không có thói quen đọc sách và có sự quan tâm đến việc đọc sách ở mức trung bình.
Có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và thói quen đọc sách. Nathanson, Pruslow & Levitt (2008) thực hiện khảo sát 774 sinh viên cho kết quả những người say mê đọc sách thường đọc ít nhất 2 quyền sách trong suốt mùa hè. Năm 2006, tác gia Leff & Harper thực hiện khảo sát thói quen đọc sách của sinh viên ngành thư ký y khoa ở trường Đại học John Hopkins. Kết quả cho thấy sinh viên thư ký y khoa đọc sách trung bình 10,8 tiếng trong một tuân và phân lớn thời gian dùng để đọc sách trực tuyến.
Năm 2009 khảo sát thói quen đọc sách của sinh viên y khoa trường Đại học y khoa King Saud, tác giả Soliman tìm ra hằng tuần sinh viên dành ra 4,5 tiếng để đọc sách. Thói quen đọc sách phụ thuộc vào thái độ cá nhân, mức độ nhận thức, trạng thái xã hội và độ tudi theo kết luận của Nawarathne (2012). Noor (2011) đã thực hiện khảo sát thói quen đọc sách của học viên cao học và chọn thời gian đọc sách mỗi ngày là biến định lượng cho thói quen đọc sách. Học viên cao học đọc nhiều dé nghiên cứu và giải trí.
Hanh vi đọc cua sinh viên bi ảnh hưởng bởi nhận thức cua sinh viên (Chou, 2009). Về tổng thể thời gian đọc trung bình hăng ngày một người lớn là 4,14h theo khảo sát cua Smith & Stahl (1999). Tổ chức National Endownment of Art (NEA) của Hoa Ky cho rang dinh nghia vé thói quen đọc sách rất nhiều và một trong những định nghĩa thói quen đọc sách được chia theo số sách đã đọc trong 1 năm. Người đọc có thể chia thành 4 nhóm theo thói quen đọc sách như sau: độc giả it đọc sách (1-5 quyền sách/năm), độc giả đọc sách vừa phải (6-11 quyền sách/năm), độc giả thường xuyên đọc sách (12-49 quyền sách/năm), độc giả say mê đọc sách (trên 50 quyền sách/năm).
Khảo sát hành vi đọc va đọc sách của người dân Nam Phi năm 2006 cho kết quả người dân Nam Phi đọc giải trí trung bình 4,1 h/tuần và đọc vì việc học 2. Khảo sát người dân Canada năm 2005 về hành vi đọc sách va mua sách vì niém vui cho thay người dân Canada trung bình mỗi năm người Canada đọc 17 quyền sách và giành 4.6 tiếng đồng hồ mỗi tuân để đọc để giải trí (The Department of Canadian Heritage, 2005). HVTH: Võ Hoang Duy Luận văn thạc sĩ 18 GVHD: TS Nguyễn Thúy Quỳnh Loan Khi nghiên cứu thói quen đọc sách ở sinh viên vùng Amravati năm 2010, tác giả Dhule kết luận các yếu t6 ảnh hưởng đến thói quen đọc sách bao gồm sự phát triển của các phương tiện truyền thông điện tử, sự không day đủ sách ở thư viện, su nhận thức về giá trị và tam quan trọng của thư viện, sự không day đủ về nguồn lực con người và vật chất. Khảo sát thói quen đọc sách của nhân viên và giảng viên những khoa khoa học tự nhiên trường Dai hoc Delhi, tác gia Sharma & Singh (2005) phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách bao gôm: tình trạng của người đọc, nhu cầu đọc, nhu cầu thông tin phục vụ cho việc học của người đọc, giá của tài liệu, lợi ích của tài liệu đọc, cách thức tác động của người dùng và thông tin.
Mục đích đọc chủ yếu của người đọc ở trường đại học Delhi bao gdm doc dé giải trí, đọc vì kiến thức, đọc vì thông tin va đọc vi tất cả những điều trên. Nghiên cứu thói quen đọc sách của sinh viên của những trường đại học nói tiếng Mã Lai và tiếng Hoa của Abidin, Pour-Mohammadi & Lean (2011) chỉ ra rằng sinh viên giành 2 giờ mỗi ngày cho việc đọc và họ đọc chủ yếu là giáo trình.