Luận văn thạc sĩ về xóa đói giảm nghèo tại Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích sâu về các giải pháp xóa đói giảm nghèo gắn liền với tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Bắc Ninh, đưa ra các đánh giá và đề xuất chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh hiệu quả

Xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh là một trong những mục tiêu chiến lược xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong bối cảnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã tạo điều kiện thuận lợi để cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, xóa đói giảm nghèo không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mà còn đòi hỏi sự gắn kết giữa tăng trưởng và công bằng xã hội. Từ năm 1997 – thời điểm tái lập tỉnh – đến nay, Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật: tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ. Theo tài liệu nghiên cứu, phát triển bền vững luôn được xác định là nền tảng để giảm nghèo toàn diện, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế đi đôi với tạo việc làmnâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Làm cho người nghèo đủ ăn, người đủ ăn trở nên khá, người khá giàu thêm giàu” – tư tưởng này vẫn là kim chỉ nam cho các chính sách xóa đói giảm nghèo hiện nay. Do đó, việc phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếgiảm nghèo tại Bắc Ninh không chỉ mang tính học thuật mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong hoạch định chính sách.

1.1. Khái niệm xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế

Xóa đói giảm nghèo là quá trình cải thiện điều kiện sống tối thiểu cho người dân, đảm bảo an ninh lương thực, tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia tăng quy mô sản xuất và thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, tăng trưởng không tự động dẫn đến giảm nghèo nếu không có chính sách phân phối công bằng. Tại Bắc Ninh, tăng trưởng kinh tế chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp và dịch vụ, do đó cần có cơ chế để người nghèo – đặc biệt ở khu vực nông thôn – được hưởng lợi từ quá trình này.

1.2. Vai trò của phát triển bền vững trong giảm nghèo

Phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu toàn cầu mà còn là định hướng chiến lược của Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh. Theo tài liệu, giảm nghèo bền vững phải đi kèm với bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo công bằng xã hội. Bắc Ninh đã tích cực chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “lượng” sang “chất”, chú trọng kinh tế xanhđào tạo nghề cho lao động nông thôn – những yếu tố then chốt giúp giảm nghèo toàn diện.

II. Thách thức khi kết hợp xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế ở Bắc Ninh

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là khoảng cách giàu – nghèo giữa khu vực đô thị và nông thôn ngày càng gia tăng. Trong khi các khu công nghiệp tại Thuận Thành, Tiên Du thu hút hàng chục nghìn lao động, nhiều hộ dân ở vùng ven vẫn thiếu đất sản xuất, trình độ học vấn thấp và khó tiếp cận cơ hội việc làm chất lượng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh nhưng chuyển dịch lao động lại chậm, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc việc làm bấp bênh. Ngoài ra, chuẩn nghèo đa chiều – bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở – cho thấy nhiều hộ “thoát nghèo” theo chuẩn thu nhập vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Tài liệu gốc nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo ngay trong từng bước đi”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tăng trưởng thiên về người nghèo chưa được thực hiện đầy đủ. Các chính sách hỗ trợ thường mang tính ngắn hạn, thiếu tính liên kết giữa các ngành và địa phương. Đặc biệt, biến đổi khí hậuô nhiễm môi trường công nghiệp cũng đe dọa sinh kế của người dân nghèo, làm suy giảm hiệu quả giảm nghèo bền vững.

2.1. Khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng vùng miền

Bắc Ninh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất cả nước, nhưng bất bình đẳng vùng miền vẫn tồn tại. Các huyện như Quế Võ, Yên Phong phát triển mạnh nhờ khu công nghiệp, trong khi một số xã ở Gia Bình, Lương Tài còn chậm đổi mới. Chênh lệch thu nhập giữa lao động công nghiệp và nông nghiệp lên tới 3–4 lần, khiến người nghèo nông thôn khó vươn lên. Đây là rào cản lớn đối với mục tiêu giảm nghèo toàn diện.

2.2. Thiếu kết nối giữa tăng trưởng và chính sách xã hội

Nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo tại Bắc Ninh vẫn mang tính hỗ trợ trực tiếp (tiền, gạo) thay vì tạo năng lực tự thoát nghèo. Đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp, và tiếp cận tín dụng ưu đãi chưa được triển khai đồng bộ. Do đó, dù tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả giảm nghèo lại chưa tương xứng. Cần có cơ chế gắn kết tăng trưởng với an sinh xã hội một cách hệ thống.

III. Phương pháp xóa đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế tại Bắc Ninh

Để xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp giảm nghèo bền vững dựa trên ba trụ cột: tạo việc làm, nâng cao năng lực người dân, và phát triển hạ tầng xã hội. Trước hết, tăng trưởng kinh tế thiên về người nghèo (pro-poor growth) phải được ưu tiên. Điều này có nghĩa là thúc đẩy các ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao, và dịch vụ logistics – những lĩnh vực có thể hấp thụ lao động địa phương. Thứ hai, đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp là chìa khóa giúp người nghèo tiếp cận việc làm ổn định. Bắc Ninh đã triển khai nhiều trung tâm dạy nghề, nhưng cần mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng. Thứ ba, hạ tầng giao thông, điện, nước, internet ở vùng nông thôn phải được đầu tư đồng bộ để thu hẹp khoảng cách phát triển. Tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế và tạo nhiều việc làm là cơ sở để giảm nhanh đói nghèo”. Do đó, chính quyền tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với khu vực tư nhân để xây dựng hệ sinh thái kinh tế bao trùm, trong đó người nghèo không bị bỏ lại phía sau.

3.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thiên về người nghèo

Tăng trưởng kinh tế thiên về người nghèo là mô hình trong đó người nghèo được hưởng lợi nhiều hơn từ tăng trưởng so với các nhóm khác. Tại Bắc Ninh, điều này có thể thực hiện qua việc ưu đãi đầu tư vào các dự án tạo việc làm cho lao động địa phương, hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp, và khuyến khích kinh tế hộ gia đình tham gia chuỗi giá trị. Đây là giải pháp giảm nghèo bền vững được nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất.

3.2. Đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng lao động

Đào tạo nghề là yếu tố then chốt giúp người nghèo chuyển từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp – dịch vụ. Bắc Ninh cần mở rộng chương trình đào tạo theo địa chỉ, phối hợp với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra. Đồng thời, giáo dục phổ thông ở vùng khó khăn cũng cần được cải thiện để tạo nền tảng lâu dài cho giảm nghèo bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở Bắc Ninh giai đoạn 1997 2024

Từ năm 1997 – thời điểm tái lập tỉnh – đến nay, Bắc Ninh đã đạt được thành tựu nổi bật trong xóa đói giảm nghèo nhờ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và chính sách xã hội đồng bộ. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm từ hơn 20% (1997) xuống dưới 1% (2023), đưa Bắc Ninh trở thành một trong những tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn cũ. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 300 USD lên hơn 5.000 USD/năm – mức cao nhất cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh: công nghiệp – xây dựng chiếm hơn 60%, dịch vụ hơn 30%, nông nghiệp dưới 10%. Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế đã tạo ra nguồn lực lớn cho an sinh xã hội. Nhiều chương trình như “Hỗ trợ nhà ở cho người nghèo”, “Vay vốn ưu đãi”, “Khuyến công nông thôn” đã giúp hàng nghìn hộ thoát nghèo bền vững. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, bảo hiểm y tế toàn dân, và xây dựng nông thôn mới đã góp phần quan trọng trong việc giảm nghèo đa chiều. Tuy nhiên, theo chuẩn nghèo mới (2021–2025), vẫn còn khoảng 2–3% dân số thuộc diện cận nghèo, chủ yếu là người già, người khuyết tật và hộ đơn thân – đòi hỏi chính sách xã hội bao trùm hơn trong giai đoạn tới.

4.1. Số liệu giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ hộ nghèo của Bắc Ninh giảm từ 21,5% (1997) xuống 0,7% (2020) và gần như xóa hộ nghèo tuyệt đối vào 2023. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 12–14%/năm – cao nhất cả nước. Điều này chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tếgiảm nghèo, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về phát triển bền vữngcông bằng xã hội trong giai đoạn mới.

4.2. Các chương trình giảm nghèo hiệu quả tại địa phương

Bắc Ninh đã triển khai nhiều chương trình giảm nghèo hiệu quả như: Chương trình 135 (hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn), Đề án “Hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nông thôn”, và “Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu”. Các chương trình này không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn nâng cao năng lực sản xuất, kết nối thị trường, và cải thiện hạ tầng, góp phần giảm nghèo bền vững.

V. Tương lai của xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh

Trong giai đoạn 2025–2030, xóa đói giảm nghèo trong tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh sẽ chuyển hướng từ “giảm nghèo tuyệt đối” sang “giảm nghèo đa chiều và bền vững”. Với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, Bắc Ninh cần đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế không làm gia tăng bất bình đẳng xã hội. Một số định hướng chiến lược bao gồm: (1) Áp dụng chuẩn nghèo đa chiều mới – bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, tiếp cận thông tin – để xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ; (2) Phát triển kinh tế sốchuyển đổi số trong nông nghiệp để tạo cơ hội cho người dân nông thôn; (3) Tăng cường an sinh xã hội cho nhóm dễ tổn thương như người già, người khuyết tật, lao động phi chính thức. Tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh: “Giảm nghèo toàn diện và bền vững luôn là mục tiêu xuyên suốt”. Do đó, Bắc Ninh cần xây dựng hệ thống giám sát nghèo linh hoạt, ứng dụng dữ liệu lớn để kịp thời hỗ trợ. Đồng thời, huy động nguồn lực tư nhânxã hội hóa các chương trình giảm nghèo sẽ là xu hướng tất yếu trong bối cảnh ngân sách nhà nước có hạn.

5.1. Chuyển sang chuẩn nghèo đa chiều và bền vững

Chuẩn nghèo đa chiều giúp nhìn nhận nghèo không chỉ qua thu nhập mà còn qua khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản. Bắc Ninh cần cập nhật dữ liệu nghèo theo chuẩn mới, từ đó thiết kế chính sách giảm nghèo toàn diện – đặc biệt cho nhóm cận nghèo, vốn dễ tái nghèo khi gặp rủi ro (ốm đau, thất nghiệp). Đây là bước tiến quan trọng trong phát triển bền vững.

5.2. Vai trò của chuyển đổi số trong giảm nghèo

Chuyển đổi số mở ra cơ hội lớn cho người nghèo nông thôn tiếp cận thị trường, thông tin và dịch vụ tài chính. Bắc Ninh có thể phát triển nền tảng thương mại điện tử nông sản, hệ thống đào tạo trực tuyến, và ứng dụng hỗ trợ vay vốn – giúp người nghèo tự lực vươn lên. Đây là giải pháp sáng tạo cho giảm nghèo trong kỷ nguyên số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ xóa đói giảm nghèo trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE TANG TRUGNG KINH TE, CONG BANG XA HOI VA NGHEO DOL 1. Các khái niệm cơ bản về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghéo: 1. Tăng trưởng kinh tễ: Tất cả các quốc gia trên thể giới, không phân biệt khuynh hướng chỉnh trị, sau khi đã giành được độc lập, có chủ quyền, đểu xác lập cho mình chiến lược phát triển kinh lê - xã bội.

Những mục tiêu phát triển đều dụya vào khả năng khai thác nguồn lực trong nước vả ngoài nước. Mỗi quốc gia trên thể giới đều có sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau. quan niệm chung, nhất là, phổi lao ra được sự tiến bộ toàn điện cũ về kính lế và xã hội, trong đó tăng trưởng là tiến đề cân thiết cho sự phát triển. Vay, tăng trưởng kinh tê là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong mội thời kỳ nhất định (tường là một năm).

Nếu tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nô dược coi là tăng trường kinh tê. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế chỉ thế hiện mặt lượng của nền kinh lễ theo theo thời gian. Để biểu thị sự tăng trướng kinh tế, người ta thưởng dùng mức tăng lên của tổng sản phẩm quốc đân (GNT) hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Mức tăng đỏ thường tỉnh trên toàn bộ nên kinh tế quốc dân, hay tỉnh binh quân theo dẫu người của một thời kỳ nào đó từ năm gốc (năm 0) đến năm thủ + Thông thưởng người 1a thường đo mức tăng hay tốc độ tầng trưởng kinh tế của một năm, chẳng hạn năm thử n.

1rong trường hợp này, năm gốc chính là năm trude do (a-1). khi đo lường sự táng trưởng người ta thường sử dựng các số đo tuyệt đổi và sẽ đe tương đối. Mức tăng trưởng tuyệt đối: cò thẻ được tính theo hai phương pháp. - Theo tổng sản phẩm (GNP hay GDP) của nên kinh tế: AY, = Y„— Yp Trong đó AY„: tông sản phẩm ting thêm của năm n so với năm gốc.

Y„; tổng sản phẩm ota nim m- Yq tổng sẵn phẩm của năm gốc Tác giả dã khái quát lý thuyết và thực tiễn ting trưởng kinh tế và công bằng, xä hội ở Chau A, tăng trưởng, kinh tế và công bằng xã hội ở một số nên kinh tế Đông Bắc Á như Nhật Bắn, Hàn Quốc, Đài Loan và Đồng Nam Á như Malaixia, 'Thải Lan, Việt Nam. Tác giả đã phân tích những mặt thành công nhất trong một vài lĩnh vực của quá trình thực hiện công bằng xã hội ở mỗi nước trong đó có Việt Nam, tác giả cững chưa nêu những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ các trước có thể áp dụng cho Việt Nam Là Xuân Bá, Chủ Tiên Quang (2001), "Nghéo đối và Xoá đối gidm nghéo ở Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả dã phân tích thực trạng đói nghẻo ở Việt Nam và nguyên nhân. của thực trạng đó.

Từ những nguyên nhân trên các tác giả cũng dưa ra những giải pháp cụ thể áp dung cho Việt Nam đề có thể Xoa đói giảm nghèo nhanh chóng. Đỗ Thú Trần Tinh (2010), "Tăng trưởng kinh lê và công bằng xã hội Œý huyết và thực tiền ở Hồ Chỉ Xinh) ", NB Lao đông, Tác giả khảo sát. một yêu Ld quan trong hỗ trợ tăng truởng kinh 1 là công, bằng xã hối, là yếu tổ tác động thuận lợi để giúp lăng trưởng có chất lượng ngày cảng cao. Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã hội luôn là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và qua khảo sát phạm vị ‘Thanh phỏ 116 Chi Minh trong thời kỳ gần hai mươi năm qua, nhằm xem xét các yến tổ đặc trưng trong tăng trưởng kết hợp công bằng xã hội của Thánh phố.

Táo giả khảo sát qua phỏng vân ý kiến thực tế của dân cư thành phỏ, từ đó để xuất các biện pháp kỳ vọng giúp giải quyết tốt hơn quan hệ giữa tăng trưởng và công, bằng xã hội. Nhin chg, các công trình nghiên cửu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vẫn để tăng trưởng kinh tế và XĐGN. Đây là những từ liệu khoa học quý sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết Luận văn này. Tuy nhiên, chưa có công, trinh hay luận văn nảo viết về để xoả đói giảm nghèo trong quả trình tăng, trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh từ ngày i lap tinh (1997) đến nay.

Muc dich va nhiệm vụ nghiên cứu của dễ (ải Mục đích: Nghiên cứu, khảo sát đề đánh giá đúng thực trạng những thành. tựu, thách thức về xoá dỏi giảm nghèo trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở tính Bac Ninh ti ngày tái lập tình (1997) đến nay, để xuất những giải pháp chủ yếu chỉ là sự gia tăng thuận tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GẤP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người. thì phát triển kinh tế ngoài việc bao ham quá trình gia tăng đó, côn có một nội lắm phân ánh rộng lớn hơn, sân sắc hơn, đỏ là những, biên đổi vẻ mặt chất của nên kinh tế - xã hội, má trước hét là sự chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng biện đại và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trinh độ phát triển vin minh xã hội thể hiện. ở hàng loạt tiêu chí như: thủ nhập thực tế, tuổi thọ trung binh, tý lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp đụng các thành tựu Khoa hoc - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, phát triển kinh tễ có thể hiểu là một quá trình tăng tiễn về mọi tắt của nền kinh tễ trong một thời kỳ nhất định. Trong ấá bạa gầm cả sự tăng thêm về qui mô sẵn lượng và xự tiên bộ về cơ câu kảnh lê xổ hội. Đó cũng là quá trình dâm bảo sự tiễn bộ, thịnh vượng và cuộc sông đốt đẹp hơn cho đông dão người đân Với nội làm rông lớn trên dây, về co ban khải niệm phát triển kih tế đã phan anh nhiều mặt khác nhau của tiền trình kinh tế của một đấi nước. Tuy nhiên trong khoảng hai thập tiên vừa qua, đo xu hướng hội nhập, khu vực hoá, Loàn cau hoa phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên dã nảy sinh nhiều vấn dé da la 6 phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hướng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cục kỳ phức.

tạp, nan giải đỏi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trưởng sống, thiên tai, dịch bệnh, chiên tranh, khủng bổ. Tử đỏ đôi hồi sự phát triển của mỗi quắc gia, lãnh thé và cả thế giới phải được nâng lên tâm cao imei cá về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp táo, phát triển. Thực tiên dó dã thúc đây sụ ra đời một khải niệm mới vẻ phát triển phân ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tắt cả các khải niệm về tăng trưởng kinh tê, phát triển kinh tế., đó là khái niệm phát triển bên vững, Phat triển bên vững Khái miệm “phát triển bổn vững” xuất hiện trong phong Hảo bão vệ môi trường từ những năm dầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Bảo cáo “Tương lai chưng của chúng ta” của Hội đồng Thẻ giới về Môi trường và 12 - Theo tổng sản phẩm bình quân dẫu ngwdi: Ay, ~ Ya- Yo Trong Ays: tổng sẵn phẩm bình quân đầu người của nầnt rì so với nắm gốc.

„: tổng sản phẩm bình quân dầu người của năm n. ‘Yo: tông sản phẩm binh quân đầu người của năm gốc. “iứtc tăng trưởng mương đối (hay còn gọi là tốc độ tăng trưởng), được tính theo tỷ lệ phân trăm (%) cũng theo hai phương pháp, - Theo tổng sản phâm (GNP hoặc GDP) của nên linh tế Trong đó: g(Y,) là tốc độ táng trưởng GNP (GDP) của toàn bộ nên kinh tế của nữm nụ tính bang phan - Theo GNP (GDP) bình quân dâu người #0») %— x100= Â⁄; x 100 bó wy Trong dẻ: g(y„) là lốc dộ tắng rưởng GNP (GDP) bình quân đầu người của năm n, tính bằng phân trăm. Tắt cả các chỉ tiểu phản ánh mức tăng trưởng kinh tế như GNP, GDP hay GNP, GDP binh quân dau người.

dễu có thể tính theo hai loại giá: giá hiện hành và giá cố định. Giá hiện hành: là gia Oe trường phút sinh trong quá trình giao địch, trao đổi thực tế của năm tỉnh toàn. Giá cổ định: đễ so sánh quá trình tăng trưởng của nên kinh tế giữa các nim, giữa các thời kỳ người ta không đùng giá hiện hành mả dùng giá cố định, tức là giá của một năm nào đỏ trong quá khứ được lấy lả năm gốc. Trên cơ sở đó, người ta tinh đổi các chỉ tiêu kinh tế của cáo năm khác theo giá năm gốc.

Mục đích là dễ loại trừ sự ảnh hưởng của yêu tó giả cả đến các chỉ tiêu kinh tế trong mỗi năm nhằm đảnh giá sự thay đổi thuần về khỏi lượng sản phẩm hàng hoa va dich vu. Phái triển kinh tê Theo kinh tế học: Phát triển kinh tế là khái mệm có nội đụng phẩm ảnh rộng, hon so với khái niệm tầng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản 6. Nhiing diém mới của luận văn: - Đưa ra những đánh giá sát thực vẻ thực trạng, đói nghèo và xeá đói giảm nghéo ở Tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua (từ khi tái lập tỉnh - 1997 - dén nay), chỉ rõ những vẫn dé can giải quyết và nguyên nhân của chúng.

- Đề xuất được một số kiến nghỉ có tính chất giải pháp nhằm thúc đây cong cuộc xoá dủi giảm nghẻo trên cơ sở gắn kết nó với quá trình tăng trưởng kinh tế trên địa bản tỉnh Bắc Ninh. Cấu trúc và nội dung của Luan vin Ngoài phần nở đầu và kết luận, Luận văn được cầu trắc gồm 3 chương, Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn vẻ tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và nghèo đói Chương 2. Thực trạng và những vận đê đặt ra về xoá đói giâm nghéo trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở tính: Bắc Ninh từ ngày tải lập tỉnh (1997) đến nay Chương 3.

Giải pháp cơ bản về tăng trưởng kinh tế và xoá đối giảm nghèo ở tĩnh Bắc Ninh từ nay đến 201 5 6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ