Đặt vấn đề ào những năm đầu của thập niên 2000 - 2010, thực hiện đường lối đổi V mới của đất nước, kinh tế hộ nông dân đã bắt đầu phát huy tác dụng, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Hiện nay, hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhưng chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông dân và một tỷ lệ đáng kể của gia đình cán bộ, công nhân, viên chức,… đã nghỉ hưu. Hầu hết các trang trại có quy mô đất đai dưới mức hạn điền, với nguồn gốc đa dạng, sử dụng lao động của gia đình là chủ yếu; một số có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động được thỏa thuận giữa hai bên.
Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng; vốn vay của tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng thấp. Phần lớn trang trại phát huy được lợi thế của từng vùng, kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài. Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá. Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết kịp thời như: việc giao đất, thuê đất, chuyển nhượng, tích tụ đất để làm kinh tế trang trại; việc thuê mướn, sử dụng lao động; việc đăng ký hoạt động và NGUYEÃN THÒ THUÏC QUYEÂN CNMT2010 – ÑHBK TPHCM LUAÄN VAÊN THAÏC SYÕ 2 TRANG TRAÏI SINH THAÙI CAO NGUYEÃN thuế thu nhập của trang trại; công tác quy hoạch sản xuất, thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sinh hoạt, xử lý chất thải, thông tin liên lạc; thị trường còn kém phát triển, lúng túng và chịu thua thiệt khi giá nông sản xuống thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn,… Vượt lên trên những khó khăn đã nêu mà kinh tế trang trại gặp phải, ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề bức xúc khó giải quyết của nhiều trang trại, nhất là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nó kéo theo các hệ lụy về mặt kinh tế. Thực tế cho thấy, nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm và cạn kiệt nguồn tài nguyên như hiện nay đó là nhận thức không đầy đủ của các chủ trang trại cũng như việc phát triển kinh tế trang trại ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, không theo quy hoạch. Đặc biệt hơn cả, ở nhiều vùng nuôi tôm, do mạng lưới thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch nên việc nuôi trồng đã gây ô nhiễm môi trường nước, phân tán dịch bệnh, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, tại một số địa phương rừng đã bị phá kiệt quệ để phát triển kinh tế trang trại.
Sau cùng là việc thiếu kiến thức chuyên môn cũng như khả năng để xử lý các loại chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất, nuôi trồng của trang trại. Đó không chỉ là khó khăn của ngành nông nghiệp, hiện nay, trong hầu hết các lĩnh vực như công nghiệp, du lịch, dịch vụ, đô thị,… cũng đều gặp phải những vấn đề tương tự như trên. Tuy nhiên, người ta đã tìm đến với giải pháp ứng dụng kỹ thuật sinh thái để tạo ra các sản phẩm tương ứng như khu công nghiệp sinh thái, khu du lịch sinh thái, khu đô thị sinh thái,… nhằm mang lại hiệu quả thiết thực về mặt kinh tế và môi trường, giải quyết triệt để những khó khăn tồn tại. Như vậy, không loại trừ khả năng ngành nông nghiệp cũng có thể áp dụng kỹ thuật sinh thái để tạo ra sản phẩm ưu việt tương ứng.
Và thực tế cho thấy, trên thế giới đã áp dụng kỹ thuật sinh thái vào lĩnh vực nông nghiệp từ rất sớm và cho ra đời các mô hình trang trại sinh thái mang lại hiệu quả thiết thực, nói không với ô nhiễm môi trường và từng bước phát triển bền vững. Việc phát triển nền nông nghiệp sinh thái là một chiều hướng lâu dài, chứ không phải là một giải pháp “chữa cháy” tạm thời do tính ổn định, bền vững và khả năng tạo nên trạng thái cân bằng trong mối NGUYEÃN THÒ THUÏC QUYEÂN CNMT2010 – ÑHBK TPHCM LUAÄN VAÊN THAÏC SYÕ 3 TRANG TRAÏI SINH THAÙI CAO NGUYEÃN quan hệ giữa con người và tự nhiên của nó. Chiều hướng ứng dụng này ngày càng gia tăng về số lượng và phát triển, kéo dài mãi tạo nên một nền nông nghiệp trường tồn, ổn định. Trang trại Cao Nguyễn tọa lạc tại xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cũng không ngoại lệ, tôi mong muốn chọn giải pháp áp dụng kỹ thuật sinh thái để xây dựng trang trại phát triển theo hướng bền vững, nhằm đạt được lợi ích lâu dài về mặt kinh tế lẫn môi trường, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế gia đình qua nhiều thế hệ.
Do đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng trang trại Cao Nguyễn theo hƣớng kỹ thuật sinh thái” để nghiên cứu trong luận văn này. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng trang trại Cao Nguyễn theo hướng kỹ thuật sinh thái nhằm đảm bảo các yếu tố sau: - Về mặt môi trƣờng: Giảm thiểu tối đa lượng chất thải phát sinh và hướng đến mục tiêu không phát sinh chất thải trên cơ sở tận dụng tối đa các thứ phẩm, phế phẩm để tạo ra các sản phẩm mới có lợi. - Về mặt kinh tế: Đảm bảo hiệu quả kinh tế cho trang trại, cân bằng thu - chi và tận thu các giá trị từ chất thải. - Về mặt kỹ thuật: Tuân thủ theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành về môi trường và các lĩnh vực khác có liên quan.
Nội dung nghiên cứu Nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào 05 vấn đề trọng tâm sau: - Đưa ra cơ sở lý thuyết về mô hình trang trại và kỹ thuật sinh thái. - Đưa ra bức tranh tổng quan điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. - Xác định các tiêu chí của mô hình trang trại trên quan điểm kỹ thuật sinh thái. - Xây dựng trang trại Cao Nguyễn theo hướng kỹ thuật sinh thái.
- Đánh giá tính khả thi khi áp dụng môi hình vào thực tiễn. NGUYEÃN THÒ THUÏC QUYEÂN CNMT2010 – ÑHBK TPHCM LUAÄN VAÊN THAÏC SYÕ 4 TRANG TRAÏI SINH THAÙI CAO NGUYEÃN 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp thu thập số liệu, thống kê, xử lý số liệu: Nhờ sự hỗ trợ từ các Trung tâm khuyến nông, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn địa phương, Ủy ban nhân dân xã, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực nông nghiệp để khảo sát thực địa và thu thập số liệu về các trang trại, nhận dạng các mô hình trang trại hiện có trên địa bàn. Thu thập thông tin, dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và định hướng phát triển của khu vực nghiên cứu.
Thu thập thông tin, số liệu thống kê các kiểu mẫu mô hình trang trại. - Phƣơng pháp phân tích, đánh giá: Căn cứ trên những thông tin thực tế và khoa học thu thập, tổng hợp được, thực hiện việc phân tích, đánh giá các mô hình trang trại theo các tiêu chí về kinh tế, môi trường và kỹ thuật. - Phƣơng pháp tham khảo ý kiến cộng đồng: Gặp gỡ, trao đổi với những người làm việc tại các trang trại để hoàn chỉnh thông tin về các mô hình trang trại. - Phƣơng pháp chuyên gia: Đối với phương pháp này, thông thường có thể áp dụng các biện pháp sau để tiếp cận và ghi nhận ý kiến đánh cũng như hướng dẫn từ các cá nhân am hiểu về nội dung nghiên cứu: + Phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có liên quan đến những thông tin về đề tài.
+ Gửi phiếu điều tra (thiết lập bảng câu hỏi) để thu thập thông tin liên quan đến đề tài. + Thảo luận dưới các hình thức hội nghị khoa học. - Phƣơng pháp so sánh: Dựa vào những kết quả tổng hợp được từ việc khảo sát, tham vấn, đánh giá để so sánh ưu - nhược điểm và lựa chọn mô hình trang trại sinh thái phù hợp với điều kiện của trang trại Cao Nguyễn. Tiếp theo, căn cứ vào loại mô hình đã lựa chọn và các yêu cầu về kinh tế, điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, nhu cầu thị trường,… để xác định các thành phần chính của mô hình.
NGUYEÃN THÒ THUÏC QUYEÂN CNMT2010 – ÑHBK TPHCM LUAÄN VAÊN THAÏC SYÕ 5 TRANG TRAÏI SINH THAÙI CAO NGUYEÃN - Phƣơng pháp tính toán, xây dựng mô hình, mô phỏng bằng phần mềm Autocad. Ứng dụng các công thức toán để tính toán quy mô các thành phần trang trại, dựa vào đó để xây dựng các bản vẽ thiết kế cho trang trại theo tỷ lệ tương ứng với kích thước thật của đối tượng. - Phương pháp lập bản đồ bằng phần mềm Map Info: Ứng dụng phần mềm Map Info lập các bản đồ chi tiết trang trại: Lập bản đồ địa hình, bản đồ tổng mặt bằng, bản đồ thông tin trang trại,… Hiện nay phần mềm MapInfo được sử dụng nhiều trong việc quản lý và số hóa dữ liệu GIS. Phần mềm MapInfo là một công cụ khá hữu hiệu để tạo ra và quản lý một cơ sở dữ liệu địa lý vừa và nhỏ trên máy tính cá nhân.
Nó rất hữu ích cho những người làm việc về GIS trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các chuyên ngành về quản lý tài nguyên thiên nhiên (đất đai, lâm nghiệp, môi trường,…). Giao diện phần mềm Mapinfo 5. Phạm vi nghiên cứu - Thời gian: 12 tháng (từ tháng 7/2011 đến tháng 6/2012) - Không gian: Trang trại Cao Nguyễn, ấp 3, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. NGUYEÃN THÒ THUÏC QUYEÂN CNMT2010 – ÑHBK TPHCM LUAÄN VAÊN THAÏC SYÕ 6 TRANG TRAÏI SINH THAÙI CAO NGUYEÃN - Kỹ thuật: Các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Các tiêu chuẩn của Bộ Y tế Các tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng.