CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các nội dung về dự toán 1. Khái niệm về dự toán Nhiều học giả trên thế giới định nghĩa về hệ thống dự toán như sau: Hệ thống dự toán được xem là hệ thống lập kế hoạch, sử dụng, phân bổ và kiểm soát nguồn lực của doanh nghiệp hiệu quả. Hệ thống này đảm bảo việc thông tin, kết hợp và kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
(BPP, 2011) Theo Maher, Stickney và Weil, có thể nói, hệ thống dự toán cũng giống như một “bản vẽ”1 các hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạch định các hoạt động, phối hợp các hoạt động với nhau, đảm bảo các phương tiện đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và thiết lập các tiêu chuẩn để đo lường kết quả thực hiện. (Maher, Stickney & Weil, 2012, tr. Dự toán là kế hoạch tài chính cho tương lai và là thành tố quan trọng trong quá trình lập kế hoạch. Nó giúp doanh nghiệp xác định mục tiêu và kế hoạch hành động để đạt được mục tiêu.
(Moven, Hansen, Height, Gekas, Mcconomy, 2011) Như vậy, có thể nói dự toán là hệ thống được duy trì nhằm cân đối nguồn lực trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu, kiểm soát và đánh giá được hoạt động trong doanh nghiệp. Vai trò của dự toán Dự toán là công cụ hữu hiệu của nhà quản trị doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch và kiểm soát, cung cấp thông tin để cải thiện việc ra quyết định, cung cấp tiêu chuẩn để đánh giá và cải thiện thông tin cũng như gia tăng sự phối hợp giữa các bộ 1 “blueprint” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 phận trong doanh nghiệp (Moven, Hansen, Height, Gekas, Mcconomy, 2011). Nói một cách cụ thể nhất, dự toán có các vai trò như sau: Đảm bảo đạt được mục tiêu công ty Mục tiêu của công ty có thể được thiết kế cho cả một doanh nghiệp, cho từng phòng ban hay từng hoạt động trong doanh nghiệp. Mục tiêu được thể hiện trong ngân sách và cần phải đạt được nó sau một khoản thời gian dự toán.
Đảm bảo kế hoạch được triển khai Đây được xem là đặc tính quan trọng nhất của hệ thống dự toán. Bởi vì, quá trình lập kế hoạch tổng quát đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải luôn có cái nhìn hướng về phía trước, từ đó lên được kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu cho từng phòng ban, từng hoạt động, từng nhà quản lý cấp trung và dự báo các vấn đề có thể xảy ra. Vì vậy, hệ thống cũng đồng thời giúp ngăn ngừa được việc nhà quản lý phụ thuộc quá nhiều vào các kế hoạch không phù hợp có khả năng ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động của doanh nghiệp. Đảm bảo tính thông suốt từ ý tưởng đến kế hoạch Cần thiết phải thiết lập một hệ thống dự toán chính thống để đảm bảo rằng mỗi thành phần trong kế hoạch nhận biết được họ cần làm gì, trong đó thông tin có thể là một chiều, từ nhà quản lý xuống nhân viên hoặc cũng có thể là hai chiều.
Gắn kết các hoạt động trong doanh nghiệp lại với nhau đi từ kinh doanh – kế hoạch – sản xuất – giao hàng Hoạt động của các phòng ban hay cơ sở khác nhau của một tổ chức cần phải được kết hợp lại để phát huy tối đa hiệu quả công việc vì mục tiêu chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Ví dụ về sự gắn kết này như sau: để lên dự toán về lượng nguyên vật liệu cần mua, phòng mua hàng phải dựa vào dự toán sản xuất và dự toán sản xuất này lại được xây dựng trên cơ sở dự toán số liệu doanh thu. Đây là nguyên lý tương đối đơn giản, dễ hiểu, tuy nhiên trong quá trình tác nghiệp rất khó để đạt được sự kết hợp tốt nhất. Các phòng ban vẫn vì mục tiêu của phòng ban mình hoặc bản thân các mục tiêu này mâu thuẫn với dự toán chung, chính vì vậy, các mục tiêu không được kết hợp một cách tối ưu nhất trong việc đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Cung cấp khung chuẩn để hoạt động cho các trung tâm trách nhiệm Hệ thống dự toán và kiểm soát yêu cầu trưởng các trung tâm dự toán phải chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo đạt được mục tiêu dự toán trong quá trình hoạt động dưới sự kiểm tra giám sát của cá nhân người quản lý. Thiết lập được hệ thống kiểm soát Có thể nói, dự toán giống như “một cây thước” dùng để “căn ke” những gì mà doanh nghiệp đã đạt được. Kiểm soát hiệu suất hoạt động bằng cách so sánh giữa dự toán và kết quả thực tế. Từ đó, tìm ra được nguyên nhân và tiến hành phân tích để tìm ra các yếu tố có thể kiểm soát và các yếu tố không thể kiểm soát được.
Động viên, khích lệ nhân viên nâng cao hiệu quả hoạt động Lợi ích và cam kết gắn bó với tổ chức của nhân viên phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống đánh giá kết quả, cung cấp cho người lao động biết được họ đã làm tốt hay không tốt như thế nào. Việc xác định các yếu tố có thể kiểm soát được ngay từ đầu của dự toán cùng quy chế thưởng phạt phân minh sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại dự toán Hiện tại, có nhiều cách phân loại dự toán như: phân loại dự toán ngân sách theo chức năng (dự toán hoạt động và dự toán tài chính), phân loại dự toán theo phương pháp lập (dự toán linh hoạt và dự toán cố định), phân loại theo mức độ phân tích (dự toán ngân sách từ gốc và dự toán ngân sách cuốn chiếu).
Phân loại theo chức năng Theo Hermanson, Ewards và Ivancevich, hệ thống dự toán tổng (master budget) bao gồm 2 thành phần: dự toán hoạt động (operating budget) và dự toán tài chính (financial budget) (Hermanson, Edwards, Ivancevich, 2006). Dự toán hoạt động (operating budget) thông thường bao gồm 8 dự toán thành phần có mối liên hệ với nhau để tạo thành kết quả cuối cùng là dự toán kết quả sản xuất kinh doanh. 8 dự toán thành phần có thể kể ra như sau: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, dự toán kết quả sản xuất kinh doanh. Dự toán tài chính (financial budget) bao gồm 3 dự toán thành phần: dự toán dòng tiền, dự toán bảng cân đối kế toán và dự toán vốn của doanh nghiệp.
Dự toán tiêu thụ Dự toán tiêu thụ là dự toán quan trọng đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải lập trong hệ thống dự toán vì đa phần các dự toán còn lại đều phụ thuộc vào dự toán tiêu thụ này. Số lượng hàng tiêu thụ dự báo trong năm sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kế hoạch mua và tồn trữ nguyên vật liệu, kế hoạch sử dụng lao động, kế hoạch sử dụng các chi phí chung. Dự toán tiêu thụ bắt đầu từ việc dự toán số lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ. Tại bước đầu tiên của dự toán, số lượng tiêu thụ của năm ngoái được sử dụng và điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chỉnh các yếu tố thị trường, sử dụng mô hình dự báo thích hợp để ước tính sản lượng bán năm dự toán.
Sau khi dự toán phần số lượng, doanh thu dự báo sẽ được tính toán bằng cách nhân sản lượng với giá bán ước tính. Dự toán sản xuất Dự toán sản xuất được lập trên cơ sở xem xét số lượng sản phẩm tiêu thụ và chính sách hàng tồn kho của doanh nghiệp. Dự toán sản xuất cần phải được thực hiện một cách kỹ lưỡng, giúp doanh nghiệp chủ động được kế hoạch tồn kho sản phẩm, tránh tình trạng tồn kho quá nhiều, ứ đọng vốn và phát sinh những chi phí không cần thiết. Mặt khác, cũng để tránh tình trạng thiếu sản phẩm dẫn đến nhu cầu sản phẩm cần sản xuất vào năm sau quá lớn, có thể vượt quá năng lực sản xuất của doanh nghiệp (Hermanson, Ewards & Ivancevich, 2006).
Dự toán chi phí NVLTT Dự toán chi phí NVLTT bao gồm 2 dự toán con: dự toán nhu cầu NVLTT phục vụ sản xuất và dự toán mua NVLTT. Trong đó, dự toán được thể hiện vừa bằng số lượng vừa bằng giá trị. Dự toán nhu cầu NVLTT phục vụ sản xuất có mối liên hệ với dự toán sản xuất để đảm bảo quá trình sản xuất không bị gián đoạn trong suốt kỳ hoạt động. Trong khi đó, dự toán mua NVLTT ước tính số lượng NVLTT mua trong kỳ phục vụ cho nhu cầu NVLTT cần cho sản xuất và mức tồn trữ hàng tồn kho cho phép.
(Warren, Reeve, Ducha, 2012) Các thông tin về mức dự trữ hàng tồn kho cho phép sẽ thường căn cứ vào kinh nghiệm, năng lực tồn trữ của kho và các tính toán về dòng tiền. Dự toán chi phí NCTT Dự toán chi phí NCTT phản ánh số giờ lao động cần thiết phục vụ cho việc sản xuất, đồng thời tính toán giá trị bằng tiền của những tiêu hao này. Dự toán chi phí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 NCTT cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp thông tin về tình hình sử dụng nguồn lực lao động trong doanh nghiệp và chi phí tương ứng mà doanh nghiệp phải chuẩn bị trong giai đoạn sắp tới. Chi phí NCTT có liên quan mật thiết đến việc cải tiến các quy trình sản xuất vì nó phản ảnh các định mức về thời gian của lao động trực tiếp, và định mức này phải liên tục được điều chỉnh và cải tiến trong suốt quá trình sản xuất.
Dự toán chi phí sản xuất chung Dự toán chi phí sản xuất chung tập trung vào ước tính chi phí cho từng khoản mục chi phí sản xuất chung phục vụ cho kế hoạch sản xuất dự toán. Chi phí sản xuất chung có thể sẽ khác nhau theo các phương pháp dự toán khác nhau (dự toán truyền thống và dự toán trên cơ sở hoạt động). Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với dự toán tiêu thụ. Thông thường, ở mức doanh thu cao thì chi phí bán hàng tương ứng cũng sẽ cao.
Ngược lại, chi phí quản lý doanh nghiệp và các thành phần khác lại ít phụ thuộc vào doanh số vì phần lớn các thành phần chi phí trong chi phí này là chi phí cố định.