MỞ ĐẦU Bệnh Parvo là một bệnh truyền nhiễm rất nghiêm trọng và nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao ở chó. Nguyên nhân của bệnh do Canine Parvovirus type 2 (CPV- 2) gây ra với đặc trưng là các dấu hiệu sốt, biếng ăn, giảm căn, viêm dạ dày, ruột. Triệu chứng lâm sàng rõ ràng nhất ở chó con là nôn mửa, tiêu chảy. Bệnh xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970, lây nhiễm cho những con chó nuôi trong nhà và nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới, và được xác định là do CPV type 2 (CPV-2) gây ra.
Tuy nhiên, cuối những năm 1980, genotype CPV-2 đã hoàn toàn bị thay thế bởi một loại biến thể kháng nguyên mới, được gọi là CPV-2a. Các tác giả đã chỉ ra 5 vị trí sai khác về amino acid ở protein VP2 giữa các chủng CPV-2a và các chủng CPV-2 (Parrish et al. Tiếp theo, trong khoảng thời gian từ năm 1984 đến năm 2000, trên thế giới, đã xuất hiện thêm các biến thể mới bao gồm CPV-2b và CPV-2c. Trong đó CPV-2b lần đầu tiên được phát hiện năm 1984 tại Mỹ (Parrish et al.,, 1991) và CPV-2c lần đầu tiên được phát hiện năm 2000 tại Italia (Buonavoglia et al.
Ở Châu Á, các công bố về CPV vẫn còn hạn chế. Các công bố gần đây cho thấy CPV-2a và CPV-2b đã có mặt tại Trung Quốc (Zhong et al., 2014), CPV-2b có mặt ở Hàn Quốc (Park et al., 2012) và CPV-2c có mặt ở Đài Loan (Chiang et al. Tại Việt Nam, cho đến nay, các nghiên cứu về canine parvovirus chưa có nhiều, và mới chỉ tập trung ở các nghiên cứu về bệnh lý và triệu chứng lâm sàng (Hồ Đình Chúc và cs., 1993; Lê Thị Tài, 2006; Nguyễn Thị Lan và Khao KEONAM, 2012; Nguyễn Thị Lan và Trần Trung Kiên, 2010). Nghiên cứu về sinh học phân tử của CPV-2 được Nakamura và cộng sự tiến hành từ 2004 trên các mẫu bệnh phẩm của chó và mèo tại thành phố Hồ Chí Minh (Nakamura et al.
Nghiên cứu này chỉ phát hiện có sự lưu hành của duy nhất biến thể CPV- 2b và cho rằng đây là loại virus phổ biến tại Việt Nam. Cũng tại thành phố Hồ Chí Minh, công bố năm 2018 của Nguyễn Văn Dũng và cộng sự đã xác định các chủng CPV đang lưu hành thuộc CPV-2c. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về CPV tại các địa phương khác của Việt Nam ngoài thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc tính phân tử và xác định phả hệ nguồn gốc của một số chủng Parvovirus gây bệnh trên 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chó tại Hà Nội” nhằm xác định các genotype CPV gây bệnh trên chó đang lưu hành tại Hà Nội.
MỤC TIÊU Giải mã toàn bộ gen kháng nguyên VP2 của các mẫu CPV thu nhận tại Hà Nội. Từ đó xác định genotype và nguồn gốc phả hệ của các chủng CPV đang lưu hành. NỘI DUNG - Giải mã gen kháng nguyên VP2 của một số chủng CPV đang lưu hành tại Hà Nội. - Xác định kiểu gen của một số chủng CPV đang lưu hành tại Hà Nội.
- Xác định mối quan hệ di truyền của một số chủng CPV đang lưu hành tại Hà Nội với các chủng CPV trên thế giới. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ CANINE PARVOVIRUS 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong những năm 1970, CPV-2 xuất hiện như một loại virus mới đối với chó nuôi trong nhà, và lan rộng sang châu Á, Úc, New Zealand, châu Mỹ và châu Âu vào đầu năm 1978 (Parrish et al. Loại virus này được xác định là CPV-2 để phân biệt nó với virus nguyên thủy (MVC) hay còn được gọi là CPV type 1 (CPV-1) (Carmichael et al. Nghiên cứu mối quan hệ phát sinh loài cho thấy CPV-2 có khả năng xuất hiện vài năm trước khi lan rộng toàn cầu trên chó vào năm 1978 và 1979 (Parrish et al., 1988; Shackelton et al., 2005; Hoelzer et al. Kết quả kiểm tra kháng thể cho thấy có sự xuất hiện của CPV-2 ở Hy Lạp và Bỉ từ năm 1974 đến năm 1976 (Schwers et al., 1979; Koptoulos et al., 1986), trong khi lần đầu phát hiện CPV-2 ở Mỹ, Nhật Bản và Úc vào đầu năm 1978 (Parrish, 1999).
Kể từ đấy, virus đã phổ biến trên chó trên toàn cầu (Parrish, 1999). Năm 1979, những con sói hoang dã ở Mỹ cũng bị lây nhiễm nặng (Thomas et al. Tuy nhiên, chỉ sau khi xuất hiện từ 2-3 năm, CPV-2a đã thay thế toàn bộ CPV-2 ở các nước này cũng như ở Pháp và Đan Mạch (Parrish et al. Các tác giả đã chỉ ra 5 vị trí sai khác về amino acid ở protein VP2 giữa các chủng CPV-2a và các chủng CPV-2 (Parrish et al.
Ngoài loại kháng nguyên CPV-2a, còn có hai loại biến thể kháng nguyên khác là CPV-2b (hoặc VP2 426Asp) và CPV-2c (hoặc VP2 426Glu). CPV-2b lần đầu tiên được phát hiện năm1984 tại Mỹ (Parrish et al., 1991b) và CPV-2c được nhận dạng năm 2000 tại Ý (Buonavoglia et al. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Decaro và cs năm 2007 cho thấy dòng CPV-2c lâu nhất đã được phân lập năm 1996. Đây là bằng chứng cho thấy biến thể này đã được lưu hành ở Đức 4 năm trước khi được phát hiện lần đầu tiên ở Ý.
Kiểm tra huyết thanh thu được từ chó sói hoang dã (Canis latrans) giữa năm 1979 và 1984 tại Mỹ cũng chỉ ra rằng chúng ban đầu đã bị nhiễm CPV-2 (Thomas et al., 1984), nhưng sau năm 1980 chó sói con đã bị nhiễm với CPV-2a và CPV-2b (Parrish et al. Các kiể u gen khác nhau của CPV-2 được xác định ở một số vị trí quan trọng trên gen kháng nguyên VP2. Cụ thể như sau: giữa CPV-2a và CPV-2 được 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân biệt ở bốn vị trí Leu 87 Met, Thr 101 Ile, Gly 300 Ala và Tyr 305 Asp. Giữa các genotype CPV-2a, 2b và 2c được xác định ở vị trí 426 (Asn ở CPV-2a, Asp ở CPV-2b và Glu ở CPV-2c), là vị trí quan trọng trên gen kháng nguyên VP2 của parvovirus (Martella et al., 2006; Miranda and Thompson, 2016).
Mặc dù các triệu chứng lâm sàng của chó nhiễm CPV-2c cũng tương tự như với chó nhiễm CVP-2a và CPV-2b bao gồm chán ăn, nôn mửa, viêm dạ dày, ruột cấp tính, tiêu chảy, đi ngoài ra máu nhưng mức độ bệnh nặng hơn và nguy hiểm hơn (Aldaz et al., 2013; Decaro et al. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Cho đến hiện nay, đã có một số nghiên cứu về bệnh Parvo trên chó, tuy nhiên các nghiên cứu này mới chủ yếu tập trung vào khảo sát tỉ lệ nhiễm bệnh ở một số tỉnh và khu vực (Trần Ngọc Bích et al., 2013; Nguyễn Thị Yến Mai et al. Những nghiên cứu về virus gây bệnh, đặc biệt là các nghiên cứu về sinh học phân tử chưa có nhiều. Nakamura et al., 2004 đã công bố một nghiên cứu trên các mẫu CPV của chó và mèo.
Nghiên cứu này đã cho thấy có sự xuất hiện của chủng CPV-2b xuất hiện ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có thể sẽ có sự tiến hóa của chủng CPV tại Việt Nam. Khảo sát mới nhấ t trên chó ta ̣i thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có 2 chủng CPV-2a và CPV-2c đang lưu hành trong đó CPV-2c có xu hướng vượt trội (Nguyễn Văn Dũng, 2017; Nguyễn Văn Dũng và cs. Nghiên cứu gần đây của Đoàn Thị Thanh Hương và cộng sư ̣ đã phát hiê ̣n chủng Parvovirus type 2c đang lưu hành ta ̣i Hà Nội (Đoàn Thi ̣ Thanh Hương và cs.
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA PARVOVIRUS 2. Cấu tạo chung Canine Parvovirus có đường kính nhỏ (~25 nm), không có vỏ bao phủ. Cấu trúc ba chiều của CPV-2 đã được xác định nhờ sử dụng tia X (Tsao et al., 1991; Xie and Chapman, 1996). Loại virus này có bộ gen DNA thẳng, sợi đơn âm, kích thước khoảng 5.2kb, chứa hai khung đọc mở (ORF).
Một trong số đó mã hóa các protein không cấu trúc NS1NS2 và một khung khác mã hóa hai protein cấu trúc khác VP1 và VP2. Ở hai đầu của hệ gen, cấu trúc kẹp tóc đọc xuôi ngược giống nhau có 150 base được sử dụng cho việc tái bản DNA virus (Reed et al. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Capsid chứa 60 tiểu đơn vị protein của VP1 (5-6 bản) và VP2 (54-55 bản), những protein khác có chung cấu trúc. Các vùng mã hóa cho VP1 (727 amino acid) và VP2 (584 amino acid) chồng lên nhau, trừ một vùng đầu N duy nhất có 143 amino acid ở VP1 (Tsao et al., 1991; Agbandje et al.
Hai protein cấu trúc được tạo ra bằng cách nối tiếp các mRNA của virus (Reedet et al., 1988; Wang et al., 1998; Parrish and Kawaoka, 2005). Protein VP2 có thể được cắt gần đầu N của nó bằng các proteaza của vật chủ để tạo ra một protein cấu trúc khác, VP3, chỉ xuất hiện trong các virion hoàn chỉnh (chứa DNA). Các protein capsid có một lõi trung tâm gồm tám đoạn xoắn, β-barrel không song song với vòng linh hoạt giữa các sợi β tương tác để tạo thành hầu hết các capsid bề mặt. Các đặc điểm bề mặt của capsid bao gồm một vùng nhọn dài 22 Å trên trục gấp ba lần, một trũng sâu 15 Å (hẻm núi) xung quanh cấu trúc hình trụ ở trục gấp năm lần và một trũng sâu 15 Å (chỗ trũng) ở trục gấp hai lần.
Ngoài ra, trục gấp ba lần là vùng kháng nguyên nhất của capsid và hoạt động như một mục tiêu để trung hòa các kháng thể (Tsao et al., 1991; Agbandje et al. Cấu trúc capsid của CPV (Xie Q. Nguồn: http://www.edu/virusworld/images/cpv-pymol_surf01.jpg 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vị trí xếp loại CPV-2 thuộc chi Protoparvovirus, họ Parvoviridae, đã được đưa vào trong loài Carnivore protoparvovirus 1 theo Uỷ ban quốc tế về phân loại virus (Tijssen et al.
Nguồn gốc của các kiểu gen chủng CPV-2 Mối quan hệ phát sinh loài giữa các CPV-2 phân lập từ chó và các virus từ mèo (FPV), chồn (MEV), chó gấu mèo (RDPV) và cáo xanh (BFPV) cho thấy rằng tất cả các chủng CPV xuất phát từ một tổ tiên chung và các chủng này rất giống với virus từ các động vật hoang dã bao gồm gấu mèo và cáo (Allison et al. CPV-2 có khả năng xuất hiện khi có đột biến cho phép liên kết với thụ thể transferrin của chó (TfR) type 1 (Truyen et al., 1996a; Shackelton et al., 2005; Allison et al. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng TfR đóng vai trò quan trọng trong tính nhạy cảm của các tế bào nhiễm virus này (Hueffer et al., 2003; Palemo et al.