CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC VÀ DẠY HỌC TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Cơ sở lý luận về năng lực và tiếp cận năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực (competence) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin “competentia” đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và có mặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: tâm lý học, triết học, xã hội học, giáo dục học, kinh tế học,… Năng lực bao hàm nhiều nghĩa đa dạng. Tuy nhiên có thể tập trung vào một tâm điểm ngữ nghĩa rút ra từ một số từ đồng nghĩa hoặc nhiều nghĩa tương đồng như “khả năng” (ability), “năng khiếu” (aptitude), “tiềm năng” (capability), “sự thành thạo” (proficiency), “hiệu suất”(efficiency) “hiệu qủa” (effectiveness) và “kỹ năng” (skills).
Từ điển Webster định nghĩa từ này là “fitness hoặc ability” (sự phù hợp hoặc khả năng). Từ này có nguồn gốc từ tiếng Latin được hiểu có nghĩa như “cognizance” (sự hiểu biết/sự nhận thức) hay “responsibility” (trách nhiệm). Từ nhiều thập kỷ trước, sự chú ý đặc biệt của các nhà khoa học tập trung vào xây dựng “năng lực cơ bản” (năng lực chuyên biệt để có thể sử dụng làm chủ các yêu cầu khác nhau) và “siêu năng lực” (kiến thức về những gì đang có và sử dụng các năng lực riêng của cá nhân để tối ưu hoá việc học và giải quyết vấn đề). Vì các định nghĩa khoa học cho khái niệm năng lực là đa dạng nên không thể xác định được một định nghĩa tập trung đơn lẻ.
Tuy nhiên, vẫn có thể giải thích và phát triển khái niệm năng lực theo những mục đích khoa học và thực tiễn. Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khái niệm về năng lực như: “1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao “(Hoàng Phê,Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, 2000, trang 660-661). “Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.
Năng lực được 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hiệnvào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ (Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa, 2000). “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhậy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống” (Québec- Ministere de l’Education, 2004).
“Năng lực thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể “(F. “Năng lực là tập hợp các hoạt động dựa trên sự huy động và sử dụng có hiệu quả kiến thức từ nhiều nguồn kiến thức, kỹ năng khác nhau để giải quyết vấn đề, hoặc có cánh ứng xử phù hợp với bối cảnh phức tạp của cuộc sống”. Năng lực là khái niệm cần được hiểu không chỉ thuần tuý bao hàm kiến thức và kỹ năng. Năng lực bao gồm khả năng đáp ứng được những đòi hỏi/yêu cầu phức tạp qua việc nỗ lực sử dụng tốt các kiến thức, kỹ năng và huy động được các nguồn thích hợp nhất trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả có thể được huy động từ kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng thực hành công nghệ thông tin và thái độ phù hợp với đối tượng giao tiếp. Có thể nói, năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin.) để thực hiện có chất lượng và hiẹu quả công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp trong các điều kiện cụ thể và theo các chuẩn mực nhất định. Như vậy, có thể thấy, dù các cách định nghĩa có khác nhau về câu chữ nhưng đều khẳng định năng lực là khả năng thực hiện, hành động của con người chứ không đơn thuần là các kiến thức nhất định. Hay nói như các nhà nghiên cứu, nói đến năng lực là phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).TS Đỗ Ngọc Thống cũng khẳng định năng lực phải được đánh giá dựa trên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành động, có nghĩa là hành động (làm), thực hiện (performance) ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách “máy móc”,“mù quáng”; đúng như, CT của Indonesia đã xác định: Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân.
Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản (Puskur, 2002)”. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, nhưng có thể chỉ ra bốn điểm chung (Tôn Quang Cường, 2013) như sau: - Tính định hướng về kết quả cuối cùng mà người học cần phải làm được sau khi kết thúc một chương trình đào tạo - Tổ hợp các kĩ năng và hành vi, giá trị, niềm tin…để thực thi các nhiệm vụ trong từng bối cảnh, mức độ cụ thể - Tổ hợp các chỉ số về kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất được hình thành theo những chuẩn được công bố trước và khả năng của cá nhân vận dụng chúng trong thực tế - Sự “sẵn sàng” thực hiện hành động đáp ứng các yêu cầu chung, yêu cầu cụ thể trong từng bối cảnh theo chuẩn. Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó. Điều quan trọng là rút ra những đặc điểm chủ yếu của năng lực trong từng mục đích, chương trình cụ thể.
Những đặc điểm trên đây cũng chính là đặc điểm chung của năng lực trong dạy học. Năng lực mà chúng tôi muốn nói đến trong đề tài này cũng là năng lực trong dạy học, năng lực của người học (học sinh) mà cụ thể ở đây là năng lực của học sinh trung học phổ thông. Dạy học tiếp cận năng lực 1. Quan điểm dạy học tiếp cận năng lực Từ những năm 90 của thế kỉ XX, trên thế giới tồn tại hai cách tiếp cận chủ yếu của chương trình giáo dục là: tiếp cận nội dung hoặc chủ đề (content or topic 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com based approach) và tiếp cận kết quả đầu ra (outcome-based approach or outcome- focused curriculum).
Tiếp cận nội dung “là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn học nào đó. Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS cần biết cái gì? (what we want students to know?)”. Như vậy, cách tiếp cận này chủ yếu yêu cầu người học nắm vững những kiến thức được truyền đạt nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, đặc biệt nếu các yếu tố liên quan đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học bị xem nhẹ. Tiếp cận kết quả đầu ra “là cách tiếp cận nêu rõ kết quả - những khả năng hoặc kĩ năng (abilities or skills) mà HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể”.
“Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? (what we want students to know and to be able to do?)”. Bước sang thế kỉ XXI, do sự thay đổi của tốc độ phát triển xã hội và những biến đổi toàn cầu, giáo dục ngày càng được quan tâm hơn và có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, các nhà giáo dục trên thế giới đã đề ra một cách tiếp cận mới, đó là “tiếp cận theo năng lực”. Càng ngày, càng có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận này.
Có nhiều tên gọi khác nhau cho cách tiếp cận năng lực như: đào tạo theo năng lực thực hiện (competency based training – CBT) nhưng thuật ngữ được dùng khá phổ biến là Competency - based Curriculum (Chương trình dựa trên cơ sở năng lực - gọi tắt là tiếp cận năng lực). Nếu cách tiếp cận kết quả đầu ra chú trọng vào những khả năng và kĩ năng mong muốn học sinh đạt được thì chương trình dạy học tiếp cận năng lực cũng chú trọng vào việc người học sẽ đạt được những khả năng, kĩ năng gì hay nói một cách đơn giản là người học làm được gì sau khi kết thúc môn học. Theo TS Trần Trí Độ (2011), thuật ngữ đào tạo theo năng lực thực hiện: tức là dựa vào những tiêu chuẩn qui định cho một nghề và đạo tạo theo các tiêu chuẩn đó. Đào tạo theo năng lực thực hiện, các tiêu chuẩn theo kết quả hay đầu ra (chính là năng lực thực hiện) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra.
Năng lực đầu ra (competency) có mối quan hệ biện chứng mật thiết với kết quả cuối cùng (outcome) ở người học: kết quả cuối cùng chính là một trong những chỉ số của năng lực, và ngược lại, năng lực là sự diễn đạt một cách đầy đủ cho một kết quả cụ thể. Theo Tường Vy: “Phát triển năng lực người học không có nghĩa là mâu thuẫn với chuyện chúng ta trang bị cho học trò kiến thức kỹ năng mà căn bản là ở chỗ muốn cho con người có được cái năng lực hành động họ lưu ý đến chuyện làm chứ không phải chỉ có tri thức” (Tường Vy, 2013) Như vậy, trong quá trình giáo dục, người dạy luôn cần đặt ra câu hỏi “Cần phát triển những năng lực gì ở người học và hướng tiếp cận để phát triển năng lực như thế nào”? 1.