Luận văn: Tác động của tự học đến kết quả học tập SV song ngữ Nga - Anh

Luận văn thạc sĩ VNU phân tích tác động của ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến kết quả học tập sinh viên ngành song ngữ Nga - Anh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

0.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

0.2.1. Mục đích nghiên cứu

0.2.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Giới hạn nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu

0.4.1. Câu hỏi nghiên cứu

0.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

0.5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

0.5.1. Đối tượng nghiên cứu

0.5.2. Khách thể nghiên cứu

0.6. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

0.6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

0.6.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

1.1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan

1.1.1. Tự học là gì?

1.1.2. Khái niệm “tự học”

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý ĐỀ XUẤT

PHỤ LỤC

P.1. Phiếu khảo sát điều tra thử

P.2. Phiếu khảo sát chính thức

P.3. Nội dung câu hỏi phỏng vấn sâu (dành cho sinh viên)

P.4. Nội dung câu hỏi phỏng vấn sâu (dành cho giảng viên)

P.5. Nội dung câu hỏi phỏng vấn sâu (dành cho Ban Cố vấn học tập)

P.6. Độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha

P.7. Phân tích nhân tố khám phá EFA

P.8. Phân tích hồi quy tuyến tính bội

P.9. Kết quả kiểm định một số nhân tố tác động

P.10. Bảng thống kê số liệu khảo sát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của ý thức và thái độ đến kết quả học tập

Nghiên cứu về tác động của ý thức thái độ và phương pháp tự học đến kết quả học tập của sinh viên ngành song ngữ Nga - Anh là một chủ đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Ý thức tự học và thái độ tích cực không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn định hình cách thức sinh viên tiếp cận kiến thức. Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp cải thiện chất lượng giáo dục và nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên.

1.1. Ý thức tự học và vai trò của nó trong giáo dục

Ý thức tự học là khả năng tự giác trong việc học tập. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen học tập tích cực. Sinh viên có ý thức tự học cao thường có khả năng tự quản lý thời gian và tài nguyên học tập tốt hơn, từ đó nâng cao kết quả học tập.

1.2. Thái độ học tập và ảnh hưởng đến động lực học

Thái độ học tập tích cực giúp sinh viên duy trì động lực trong quá trình học. Những sinh viên có thái độ tích cực thường có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động học tập, từ đó cải thiện kết quả học tập của họ.

II. Thách thức trong việc phát triển phương pháp tự học hiệu quả

Mặc dù phương pháp tự học hiệu quả có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng sinh viên ngành song ngữ Nga - Anh thường gặp phải nhiều thách thức trong việc áp dụng chúng. Những thách thức này có thể bao gồm thiếu thời gian, thiếu tài liệu hỗ trợ, và áp lực từ chương trình học. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là cần thiết để nâng cao hiệu quả học tập.

2.1. Thiếu thời gian và áp lực học tập

Sinh viên thường phải đối mặt với khối lượng công việc lớn và thời gian hạn chế. Điều này có thể dẫn đến việc họ không có đủ thời gian để tự học một cách hiệu quả, ảnh hưởng đến kết quả học tập.

2.2. Thiếu tài liệu và nguồn lực hỗ trợ

Nhiều sinh viên không có đủ tài liệu học tập hoặc không biết cách tìm kiếm tài liệu phù hợp. Điều này làm giảm khả năng tự học và ảnh hưởng đến kết quả học tập của họ.

III. Phương pháp tự học hiệu quả cho sinh viên ngành song ngữ

Để nâng cao kết quả học tập, sinh viên cần áp dụng các phương pháp tự học hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp họ tiếp thu kiến thức tốt hơn mà còn phát triển kỹ năng tự học. Việc áp dụng các phương pháp này cần được thực hiện một cách có hệ thống và liên tục.

3.1. Kỹ năng quản lý thời gian trong tự học

Quản lý thời gian là một kỹ năng quan trọng giúp sinh viên tổ chức việc học tập hiệu quả. Việc lập kế hoạch học tập và phân bổ thời gian hợp lý sẽ giúp sinh viên tối ưu hóa quá trình học.

3.2. Sử dụng công nghệ trong tự học

Công nghệ hiện đại cung cấp nhiều công cụ hỗ trợ học tập. Sinh viên có thể sử dụng các ứng dụng học tập, video giảng dạy trực tuyến và tài liệu điện tử để nâng cao hiệu quả tự học.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của phương pháp tự học

Nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp tự học hiệu quả có tác động tích cực đến kết quả học tập của sinh viên ngành song ngữ Nga - Anh. Những sinh viên áp dụng các phương pháp tự học đúng cách thường đạt được kết quả học tập cao hơn và có khả năng tự tin hơn trong việc sử dụng kiến thức đã học.

4.1. Đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá thông qua điểm số và phản hồi từ giảng viên. Những sinh viên có ý thức tự học cao thường có điểm số tốt hơn và nhận được phản hồi tích cực từ giảng viên.

4.2. Mối liên hệ giữa phương pháp tự học và kết quả học tập

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc áp dụng phương pháp tự học hiệu quả và kết quả học tập. Sinh viên biết cách tự học sẽ có khả năng tiếp thu kiến thức tốt hơn và đạt được kết quả học tập cao hơn.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong tự học

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc phát triển ý thức, thái độ và phương pháp tự học là rất cần thiết để nâng cao kết quả học tập của sinh viên. Trong tương lai, cần có những chương trình hỗ trợ và đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên để họ có thể phát huy tối đa khả năng của mình.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tự học

Cần xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên, giúp họ nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc tự học và cách thức áp dụng hiệu quả.

5.2. Tương lai của tự học trong giáo dục đại học

Tự học sẽ ngày càng trở thành một phần quan trọng trong giáo dục đại học. Việc phát triển các phương pháp tự học sẽ giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho tương lai nghề nghiệp của họ.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan 1. Tự học là gì? 1. Khái niệm “tự học” Tuy đã được nghiên cứu từ lâu nhưng thuật ngữ tự học (auto-didacticism/ learner autonomy/ autonomous learning/ self-instruction/ self-study/ self-access/ self-direction/ self-directed learning/ self-planned learning/ self-education,…) lại là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học là thế nào.

Đối với một số nhà giáo dục như Holec (1981) [31] và Dickinson (1987) [27], việc phân biệt các thuật ngữ này là cần thiết; đối với một số nhà giáo dục trong đó có Knowles (1976) [33], những thuật ngữ này không có khác biệt lớn về ý nghĩa được truyền tải cũng như nội dung công việc được mô tả. Một số nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng trên thế giới đã định nghĩa về tự học như sau: i) Tự học tìm hiểu mối quan hệ giữa người biết và cái được biết đến, để hiểu được hình thức và bản chất của thực tế là những gì. (Kuzmik & Bloom, 2008: 207) [34] ii) Tự học có thể được coi là một sự khởi đầu từ giáo dục như một nỗ lực xã hội hướng tới việc phân bổ lại năng lực tham gia vào việc xây dựng kiến thức và vai trò của người học trong quá trình học. (Thanasoulas, 2000: 2) [40] iii) Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục.

(Benson, 1997: 29) [24] iv) Tự học là vấn đề về mối tương quan tâm lý của người học với quá trình và nội dung học. (Little, 1990: 7) [35] 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com v) Tự học thể hiện ý chí và khả năng của người học nhằm kiểm soát và giám sát quá trình học. (Gathercole, 1990: 16) [29] vi) Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó. (Dickinson, 1987: 11) [27] vii) Tự học là khả năng tự chịu trách nhiệm cho việc học của chính mình.

(Holec, 1981: 3) [31] viii) Tự học được xem như là một quá trình, trong đó người học, có hay không có sự giúp đỡ của người khác, trong việc xác định nhu cầu học tập của mình, xây dựng mục tiêu học tập, nhìn nhận những phương tiện hỗ trợ học tập, chọn lựa và triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược học tập, cũng như đánh giá kết quả học tập. (Knowles, 1976: 18) [33] Còn các nhà nghiên cứu, học giả, nhà giáo dục Việt Nam đã đưa ra những định nghĩa về tự học dựa trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau: Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là hoạt động nghiên cứu, với sự giúp đỡ gián tiếp của người dạy, thực nghiệm trên mô hình đào tạo giáo viên, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (1997: 59-60) [14] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… và có khi cả cơ bắp khi phải sử dụng công cụ, cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó.” Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạy học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới (2000: 276) [11] cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính SV tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.” Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự chủ động, độc lập và mang tính tích cực, tự giác ở mức độ cao. Tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người học phải tự biến đổi mình, thích nghi, tự làm phong phú giá trị của mình trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân.

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng vấn đề chính là chúng ta xem tự học là phương tiện hay là mục đích cuối cùng. Hai cách nhìn này đan xen lẫn nhau và cả hai đều có thể là một phần trong quan điểm của chúng ta về việc học ngôn ngữ hay việc học nói chung. Do đó, có thể hiểu ngắn gọn rằng, tự học ở đây chính là một quá trình tự giác tích cực, gắn liền với ý thức, thái độ, động cơ, tình cảm, ý chí,… của người học nhằm biến những kiến thức và kỹ năng nhận được từ kho tàng tri thức của nhân loại thành tài sản riêng của người học; bên cạnh đó, người học đào sâu kiến thức và mài giũa các kỹ năng này, cố gắng liên hệ và áp dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn của mỗi cá nhân người học. Ý thức tự học Theo “Tâm lý học nhận thức,” Neisser (1967) [36] đã chỉ ra rằng ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người, là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan.

Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:  Theo chiều ngang: bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí., trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.  Theo chiều dọc: bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức. Ý thức có 4 thuộc tính cơ bản sau: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới.

Đây là khả năng ý thức một cách khái quát bản chất hiện thực khách quan. Con người muốn có ý thức đầy đủ, sâu sắc cần phải có tư duy khái quát về bản chất thế giới khách quan. Tức là muốn có ý thức trước tiên con người phải hiểu biết về thế giới khách quan.  Ý thức thể hiện thái độ của con người về thế giới: Con người phản ánh hiện thức khách quan bằng cách tỏ thái độ với nó.

Những thái độ muôn màu, muôn vẻ là biểu hiện mức độ ý thức của con người về thế giới khách quan.  Ý thức thể hiện năng lực điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người: Người có ý thức là người biết điều chỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh sống.  Khả năng tự ý thức: Con người không chỉ ý thức về thế giới, mà ở mức độ cao hơn, con người có khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh hoàn thiện mình. Vậy, ý thức tự học của sinh viên chính là sự hiểu biết, sự cảm nhận của sinh viên đối với vấn đề tự học.

Thái độ tự học Bách khoa toàn thư về tâm lý học xã hội định nghĩa “thái độ chỉ các đánh giá tổng thể của chúng ta về con người, nhóm, sự vật, sự việc trong thế giới. Thái độ quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận cũng như cách chúng ta hành xử.” (Baumeister & Vohs, 2007: 67) [23] Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1170) [7] định nghĩa, thái độ là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể nào đó cần giải quyết và làm cho đối tượng đó có những biến đổi nhất định.” Đó là “tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó.” Thái độ là một sự biểu lộ mang tính chất đánh giá (tức gắn một ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực) của một người 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với người khác, đối với sự vật, sự kiện. Nó phản ánh sự cảm nhận của một người về một cái gì đó. Vậy, thái độ tự học của sinh viên chính là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động của sinh viên về việc tự học.

Phương pháp tự học Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1020) [7], phương pháp là “cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội được chủ thể sử dụng nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó, là con đường đi tới nhận thức sự vật khách quan hay là tập hợp những phương tiện tác động vào đối tượng để đạt đến mục đích đặt ra.” Vậy, phương pháp tự học của sinh viên chính là cách thức mà sinh viên tổ chức việc tự học của mình như việc đặt mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện việc tự học của mình để nhằm hướng tới đạt được kết quả cao trong học tập. Bản chất của tự học Thực chất, tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có GV. Đó là “lao động khoa học,” vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi vì người học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện, hình thức, phương tiện học tập để đạt được những kết quả mong muốn. Tuy nhiên, khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người thầy (hướng dẫn, tác động.) là không thể thiếu.

Như vậy, bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình trước, sau đó mới là nghiên cứu tài liệu thông qua việc trao đổi với các bạn bè cùng nhóm và theo sự hướng dẫn của thầy. Tóm lại, bản chất của tự học chính là người học chủ động lĩnh hội kiến thức, chủ động tìm kiếm thông tin. Do đó, GV không nên áp đặt cho người học mà phải tổ chức một cách hệ thống các hoạt động học tập nhằm giúp người học tự lĩnh hội những kiến thức mới bởi “chúng ta không thể xây dựng tương lai cho tuổi trẻ nhưng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng ta có thể xây dựng lớp trẻ cho tương lai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ