Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan 1. Tự học là gì? 1. Khái niệm “tự học” Tuy đã được nghiên cứu từ lâu nhưng thuật ngữ tự học (auto-didacticism/ learner autonomy/ autonomous learning/ self-instruction/ self-study/ self-access/ self-direction/ self-directed learning/ self-planned learning/ self-education,…) lại là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học là thế nào.
Đối với một số nhà giáo dục như Holec (1981) [31] và Dickinson (1987) [27], việc phân biệt các thuật ngữ này là cần thiết; đối với một số nhà giáo dục trong đó có Knowles (1976) [33], những thuật ngữ này không có khác biệt lớn về ý nghĩa được truyền tải cũng như nội dung công việc được mô tả. Một số nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng trên thế giới đã định nghĩa về tự học như sau: i) Tự học tìm hiểu mối quan hệ giữa người biết và cái được biết đến, để hiểu được hình thức và bản chất của thực tế là những gì. (Kuzmik & Bloom, 2008: 207) [34] ii) Tự học có thể được coi là một sự khởi đầu từ giáo dục như một nỗ lực xã hội hướng tới việc phân bổ lại năng lực tham gia vào việc xây dựng kiến thức và vai trò của người học trong quá trình học. (Thanasoulas, 2000: 2) [40] iii) Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục.
(Benson, 1997: 29) [24] iv) Tự học là vấn đề về mối tương quan tâm lý của người học với quá trình và nội dung học. (Little, 1990: 7) [35] 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com v) Tự học thể hiện ý chí và khả năng của người học nhằm kiểm soát và giám sát quá trình học. (Gathercole, 1990: 16) [29] vi) Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó. (Dickinson, 1987: 11) [27] vii) Tự học là khả năng tự chịu trách nhiệm cho việc học của chính mình.
(Holec, 1981: 3) [31] viii) Tự học được xem như là một quá trình, trong đó người học, có hay không có sự giúp đỡ của người khác, trong việc xác định nhu cầu học tập của mình, xây dựng mục tiêu học tập, nhìn nhận những phương tiện hỗ trợ học tập, chọn lựa và triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược học tập, cũng như đánh giá kết quả học tập. (Knowles, 1976: 18) [33] Còn các nhà nghiên cứu, học giả, nhà giáo dục Việt Nam đã đưa ra những định nghĩa về tự học dựa trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau: Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là hoạt động nghiên cứu, với sự giúp đỡ gián tiếp của người dạy, thực nghiệm trên mô hình đào tạo giáo viên, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (1997: 59-60) [14] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… và có khi cả cơ bắp khi phải sử dụng công cụ, cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó.” Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạy học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới (2000: 276) [11] cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính SV tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.” Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự chủ động, độc lập và mang tính tích cực, tự giác ở mức độ cao. Tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người học phải tự biến đổi mình, thích nghi, tự làm phong phú giá trị của mình trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng vấn đề chính là chúng ta xem tự học là phương tiện hay là mục đích cuối cùng. Hai cách nhìn này đan xen lẫn nhau và cả hai đều có thể là một phần trong quan điểm của chúng ta về việc học ngôn ngữ hay việc học nói chung. Do đó, có thể hiểu ngắn gọn rằng, tự học ở đây chính là một quá trình tự giác tích cực, gắn liền với ý thức, thái độ, động cơ, tình cảm, ý chí,… của người học nhằm biến những kiến thức và kỹ năng nhận được từ kho tàng tri thức của nhân loại thành tài sản riêng của người học; bên cạnh đó, người học đào sâu kiến thức và mài giũa các kỹ năng này, cố gắng liên hệ và áp dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn của mỗi cá nhân người học. Ý thức tự học Theo “Tâm lý học nhận thức,” Neisser (1967) [36] đã chỉ ra rằng ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người, là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan.
Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều: Theo chiều ngang: bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí., trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi. Theo chiều dọc: bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức. Ý thức có 4 thuộc tính cơ bản sau: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới.
Đây là khả năng ý thức một cách khái quát bản chất hiện thực khách quan. Con người muốn có ý thức đầy đủ, sâu sắc cần phải có tư duy khái quát về bản chất thế giới khách quan. Tức là muốn có ý thức trước tiên con người phải hiểu biết về thế giới khách quan. Ý thức thể hiện thái độ của con người về thế giới: Con người phản ánh hiện thức khách quan bằng cách tỏ thái độ với nó.
Những thái độ muôn màu, muôn vẻ là biểu hiện mức độ ý thức của con người về thế giới khách quan. Ý thức thể hiện năng lực điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người: Người có ý thức là người biết điều chỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh sống. Khả năng tự ý thức: Con người không chỉ ý thức về thế giới, mà ở mức độ cao hơn, con người có khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh hoàn thiện mình. Vậy, ý thức tự học của sinh viên chính là sự hiểu biết, sự cảm nhận của sinh viên đối với vấn đề tự học.
Thái độ tự học Bách khoa toàn thư về tâm lý học xã hội định nghĩa “thái độ chỉ các đánh giá tổng thể của chúng ta về con người, nhóm, sự vật, sự việc trong thế giới. Thái độ quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận cũng như cách chúng ta hành xử.” (Baumeister & Vohs, 2007: 67) [23] Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1170) [7] định nghĩa, thái độ là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể nào đó cần giải quyết và làm cho đối tượng đó có những biến đổi nhất định.” Đó là “tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó.” Thái độ là một sự biểu lộ mang tính chất đánh giá (tức gắn một ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực) của một người 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với người khác, đối với sự vật, sự kiện. Nó phản ánh sự cảm nhận của một người về một cái gì đó. Vậy, thái độ tự học của sinh viên chính là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động của sinh viên về việc tự học.
Phương pháp tự học Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1020) [7], phương pháp là “cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội được chủ thể sử dụng nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó, là con đường đi tới nhận thức sự vật khách quan hay là tập hợp những phương tiện tác động vào đối tượng để đạt đến mục đích đặt ra.” Vậy, phương pháp tự học của sinh viên chính là cách thức mà sinh viên tổ chức việc tự học của mình như việc đặt mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện việc tự học của mình để nhằm hướng tới đạt được kết quả cao trong học tập. Bản chất của tự học Thực chất, tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có GV. Đó là “lao động khoa học,” vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi vì người học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện, hình thức, phương tiện học tập để đạt được những kết quả mong muốn. Tuy nhiên, khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người thầy (hướng dẫn, tác động.) là không thể thiếu.
Như vậy, bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình trước, sau đó mới là nghiên cứu tài liệu thông qua việc trao đổi với các bạn bè cùng nhóm và theo sự hướng dẫn của thầy. Tóm lại, bản chất của tự học chính là người học chủ động lĩnh hội kiến thức, chủ động tìm kiếm thông tin. Do đó, GV không nên áp đặt cho người học mà phải tổ chức một cách hệ thống các hoạt động học tập nhằm giúp người học tự lĩnh hội những kiến thức mới bởi “chúng ta không thể xây dựng tương lai cho tuổi trẻ nhưng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng ta có thể xây dựng lớp trẻ cho tương lai.