Tổng quan nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người là nguyên tắc hiến định cốt lõi với tỷ lệ bảo hộ tuyệt đối 100% theo Hiến pháp. Tuy nhiên, thực tiễn tư pháp giai đoạn 2000 - 2014 cho thấy có khoảng 15% đến 20% các vụ án xâm phạm nhân thân xuất hiện tình tiết phòng vệ nhưng việc phân định ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và tội phạm do vượt quá giới hạn còn gặp nhiều vướng mắc, dẫn đến nguy cơ làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số 60 38 01 04) của tác giả Nguyễn Sơn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trịnh Tiến Việt tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, tập trung giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở khoa học, làm rõ 2 nhóm điều kiện của phòng vệ chính đáng, đánh giá 15 năm thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 và đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của 4 quốc gia trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử lập pháp từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2014 trên phạm vi cả nước. Công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đóng góp trực tiếp các luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự theo Đề cương số 7724/ĐC-BSTBLHS ngày 24/9/2012 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết về các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong khoa học luật hình sự Việt Nam, kết hợp cùng học thuyết quyền phòng vệ tự nhiên của công dân. Khung lý luận tích hợp các quan điểm chuyên sâu về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự và mô hình cấu thành tội phạm giảm nhẹ.
Bốn khái niệm then chốt được phân tích xuyên suốt bao gồm:
- Phòng vệ chính đáng: Hành vi vì bảo vệ lợi ích hợp pháp mà chống trả cần thiết người đang có hành vi xâm hại.
- Tính cần thiết và tương xứng: Thước đo đánh giá mức độ tương quan giữa hành vi tấn công và biện pháp phòng vệ.
- Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Sự chống trả rõ ràng quá đáng dẫn tới cấu thành tội phạm độc lập theo Điều 96 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Phòng vệ tưởng tượng: Trường hợp nhận thức sai lầm về sự tồn tại của hành vi xâm hại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Về phương pháp cụ thể, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa phân tích logic - pháp lý, tổng hợp quy phạm, phân tích án lệ và luật học so sánh giữa Việt Nam với 4 hệ thống pháp luật tiêu biểu gồm Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên bang Đức và Vương quốc Thụy Điển.
Nguồn dữ liệu thực chứng được thu thập từ cỡ mẫu gồm 120 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm được xét xử trong giai đoạn 2005 - 2013 tại Tòa án nhân dân các cấp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện đồng đều giữa các đô thị lớn và địa phương miền núi. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê thực tiễn nhằm làm sáng tỏ toàn diện những sai lệch nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đưa ra đánh giá khách quan về hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, việc Bộ luật Hình sự năm 1999 thay thế thuật ngữ "tương xứng" (tại Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 1985) bằng thuật ngữ "cần thiết" (tại Điều 15) là bước tiến lập pháp quan trọng, giúp tránh cách hiểu máy móc. Tuy nhiên, qua khảo sát 120 vụ án thực tiễn, có tới 65% trường hợp Thẩm phán và Kiểm sát viên vẫn gặp lúng túng khi xác định tiêu chí "cần thiết" do thiếu các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất kể từ sau Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986.
Thứ hai, các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chiếm tỷ lệ khoảng 4% đến 6% trong tổng số các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe được thụ lý hàng năm. Đáng chú ý, có gần 30% bản án thuộc nhóm tội này tại cấp sơ thẩm bị Tòa án cấp trên tuyên hủy hoặc sửa án vì xác định sai thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc của hành vi tấn công từ phía nạn nhân.
Thứ ba, nghiên cứu so sánh quốc tế chỉ ra khoảng trống lập pháp lớn: Điều 20 Bộ luật Hình sự Trung Quốc và Điều 37 Bộ luật Hình sự Nga đều quy định quyền "phòng vệ không giới hạn" (được phép gây thương vong cho kẻ tấn công mà không bị coi là vượt quá giới hạn) đối với các hành vi bạo lực đặc biệt nguy hiểm như giết người, cướp của, hiếp dâm, bắt cóc. Đây là điểm mà pháp luật thực định Việt Nam năm 2014 chưa ghi nhận rõ ràng.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trong thực tiễn xét xử xuất phát từ cả hai phía lập pháp và nhận thức áp dụng. Về mặt tâm lý học tư pháp, người phòng vệ khi bị tấn công bất ngờ thường rơi vào trạng thái hoảng loạn, không thể đo lường chuẩn xác cường độ chống trả. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá sự việc theo cái nhìn cơ học của người ngoài cuộc sau khi sự việc đã hoàn tất, sự bất công đối với người tự vệ là điều khó tránh khỏi.
Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn có thể được mô hình hóa qua bảng tổng hợp so sánh các tiêu chí đánh giá mức độ cần thiết giữa pháp luật Việt Nam và quốc tế, kết hợp biểu đồ cơ cấu các nguyên nhân dẫn đến sai sót tư pháp. Trong đó, sai sót do nhận định sai thời điểm hành vi tấn công chiếm 42%, đánh giá không đầy đủ tương quan công cụ và phương tiện chiếm 35%, và đánh giá thiên lệch về yếu tố tâm lý người phòng vệ chiếm 23%. Những con số này khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng quy chế hướng dẫn định lượng chi tiết cho hoạt động định tội danh.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự bằng cách bổ sung đồng thời cả hai tiêu chí "tương xứng" và "cần thiết", đồng thời quy định cụ thể quyền phòng vệ đặc biệt đối với các tội phạm xâm phạm tính mạng nghiêm trọng, hoàn thành trong tiến trình sửa đổi Bộ luật Hình sự giai đoạn 2014 - 2015 do Quốc hội và Ban soạn thảo thực hiện.
Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết mới của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng thống nhất chế định phòng vệ chính đáng, thay thế các nội dung cũ của Nghị quyết số 02/HĐTP năm 1986, đặt mục tiêu kéo giảm 80% tỷ lệ án bị hủy, sửa liên quan đến phòng vệ trong thời hạn 24 tháng sau khi ban hành.
Thứ ba, cơ quan lập pháp cần bổ sung trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự khi người phòng vệ vượt quá giới hạn do rơi vào trạng thái hoảng loạn, sợ hãi tột độ trước sự tấn công bất ngờ, tương tự mô hình Điều 33 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức.
Thứ tư, Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo luật cần tổ chức bồi dưỡng kỹ năng đánh giá chứng cứ hiện trường và phân tích tâm lý tội phạm cho 100% đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán hình sự, triển khai theo kế hoạch tập huấn định kỳ hàng năm từ năm 2015 đến năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững hệ thống 2 nhóm điều kiện của phòng vệ chính đáng, hạn chế tối đa sai lầm khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với các vụ án giết người hoặc cố ý gây thương tích có yếu tố phòng vệ.
- Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Sử dụng hệ thống lý luận và các án lệ phân tích trong luận văn để xây dựng luận cứ bào chữa sắc bén, bảo vệ tối đa quyền tự vệ hợp pháp của thân chủ trước tòa.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên luật: Khai thác tài liệu chuyên khảo chuyên sâu về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự phục vụ học tập, giảng dạy môn Luật hình sự phần chung và phần các tội phạm.
- Cơ quan xây dựng chính sách và viện nghiên cứu lập pháp: Tiếp cận cơ sở lý luận thực chứng và kinh nghiệm lập pháp so sánh từ 4 quốc gia tiên tiến để hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Phòng vệ chính đáng khác tình thế cấp thiết như thế nào?
Phòng vệ chính đáng là hành vi gây thiệt hại trực tiếp cho chính người đang có hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp. Ngược lại, tình thế cấp thiết là việc gây thiệt hại cho một lợi ích hợp pháp khác nhỏ hơn lợi ích cần bảo vệ nhằm ngăn chặn một nguy cơ đang thực tế đe dọa.
Khi nào việc chống trả bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng?
Hành vi chống trả bị coi là vượt quá giới hạn khi có sự không tương xứng rõ ràng và quá đáng so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, ví dụ nạn nhân chỉ dùng tay không xô đẩy nhưng người phòng vệ dùng vũ khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu làm chết người.
Người bị tấn công có bắt buộc phải dùng công cụ tương đương với kẻ tấn công không?
Không bắt buộc. Pháp luật không đòi hỏi sự tương đương cơ học về công cụ mà đánh giá tính cần thiết dựa trên tương quan lực lượng, cường độ tấn công, không gian, thời gian và hoàn cảnh bất ngờ thực tế tại thời điểm diễn ra sự việc.
Hình phạt đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định ra sao?
Theo Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chịu mức hình phạt nhẹ hơn rất nhiều so với tội giết người thông thường (Điều 93), với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù đối với trường hợp làm chết nhiều người.
Phòng vệ tưởng tượng có được coi là phòng vệ chính đáng không?
Không. Phòng vệ tưởng tượng phát sinh do sự suy đoán sai lầm rằng đang có sự xâm hại. Người thực hiện phòng vệ tưởng tượng không được loại trừ trách nhiệm hình sự theo chế định phòng vệ chính đáng, nhưng tùy trường hợp có thể được xem xét giải quyết theo lỗi vô ý hoặc sự kiện bất ngờ.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn từ năm 1945 đến năm 2014.
- Làm rõ cấu trúc 2 nhóm điều kiện bắt buộc để một hành vi được loại trừ trách nhiệm hình sự, phân định ranh giới định tội với 2 tội danh cụ thể.
- Khảo sát thực tiễn 120 bản án, chỉ rõ các điểm nghẽn nhận thức khiến tỷ lệ sửa án, hủy án trong nhóm tội danh này còn cao (khoảng 30%).
- So sánh lập pháp đa quốc gia, đề xuất mô hình tiếp thu quy định "phòng vệ không giới hạn" trước các tội phạm bạo lực nguy hiểm.
- Đóng góp 4 giải pháp lập pháp và hướng dẫn áp dụng cấp thiết phục vụ trực tiếp tiến trình cải cách tư pháp và sửa đổi Bộ luật Hình sự.
Quý độc giả, cán bộ nghiên cứu và người hành nghề luật quan tâm có thể tra cứu toàn văn công trình nghiên cứu tại thư viện chuyên ngành để phục vụ công tác chuyên môn và học thuật.