Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa công sở Chương 2: Thực trạng văn hỏa công sở tại UBND quận Hái Châu - thành phố Đà Nẵng Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng văn hóa công sé tai UBND quan Hai Chau - thanh pho Da Nang CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VẺ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1. Các khái niệm thuật ngữ liên quan LLLL. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hảm rộng với tất nhiêu cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh than cia con người. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiệu là văn học, nghệ thuật như: thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ánh.
Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác, văn hóa là cách sống bao gồm phong cách âm thực, trang phục, cư xử vả cả đức tin, trí thức được tiếp nhận. Vì thé chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Có rất nhiều nghĩa khác nhau về văn hóa.
Trong Từ điển tiếng Việt văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng đề chỉ học thức, lối sông. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tỉnh vi, hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lỗi sông. Theo Đại Từ điển tiếng Việt “Văn hóa là những giả trị vật chat, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [60].
Từ các cách hiểu này, rất nhiều định nghĩa về văn hóa được ra đời. Theo giáo sư Phan Ngọc. trong tác phâm “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, trên thé giới có đến 400 định nghĩa về văn hóa, vả đó chưa phải là con số cuối cùng. Đề có thẻ định nghĩa khái niệm với nội hàm vô cùng rộng lớn này, chúng ta phải nghiên cứu nghĩa gốc của nó.
Theo tiếng Việt gốc Hán, văn có nghĩa là “'chữ”, là “nét vế”; hóa là sự “biển đối”. Nói đến nét vẽ là nói đến sự thê hiện cái đẹp ra bên ngoài, còn nói đến biến đôi là sự biến đôi theo hướng tích cực. Như vậy, văn hóa là sự biến đổi từ cái xấu thành cái đẹp, cái hỗn tạp thành cái thanh tao, tính tế. Theo chữ La tỉnh, từ Cu/ze - văn hóa, có nghĩa gốc là “canh tac”, “vun trồng”.
Sở đĩ sau này nó có nghĩa là văn hóa vì hoạt động cảy cấy, vun trồng là hoạt động có ý thức đầu tiên của loài ngưởi. Nó giúp con người thoát khỏi cuộc sông nguyên thủy, bước vảo cuộc sống tập thê với những biêu hiện xã hội đâu tiên, đánh dấu sự hình thành của văn hóa. Cùng với thời gian, từ “văn hóa” đã mang thêm nhiều nội dung mới. Dù hiểu nó theo góc độ nảo, theo nghĩa gốc hay theo hình thức biểu hiện thì văn hóa luôn đề cập đến vắn đẻ: con người, xã hội, bản sắc, sáng tạo và phát triển.
Ở đây, có thé đưa ra hai định nghĩa về văn hóa tiêu biêu nhất. Federico Mayor, cuu Tông giám đốc Lineseo cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sang tạo: đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, tử những sản phẩm tỉnh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lỗi sống vả lao động” [33]. Cách hiệu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chập nhận tại Hội nghị liên chính phú về các chính sách văn hóa họp tại Venise năm 1970. Năm 2002, Lnesco đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng vẻ tâm hôn, vật chất, trí thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống.
phương thức chung sống, hệ thong giá trị, truyền thông và đức tin” [58]. Cũng chính vì thế văn hóa biêu trưng cho sự phát triển của loải người qua các thế hệ. Một đất nước giảu truyền thống văn hóa la một đất nước giàu có vẻ tính than. Thứ hai là định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chỉ Minh.
Năm 1943, Hồ Chí Minh đã viết: '*Vì lẽ sinh tôn cũng như mục đích của cuộc sông, loài người mới sáng tạo vả phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tên giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hảng ngày về mặc, ăn, ở vả các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tông hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu câu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tôn” [34]. Như vậy, văn hóa là toản bộ những giá trị vật chất và tính thần do con người sáng tạo ra trong mỗi quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên.
Văn hóa gắn bó mật thiết với con người, thắm sâu vào mọi lĩnh vực hoạt đông của con người. Khái niệm công sở Thuật ngữ công sở được sử dụng rộng rãi trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Theo nghĩa rộng công sở là những tô chức đặt đưới sự quản lý của Nhà nước để tiến hành những công việc chuyên ngành. Theo Đoàn Trọng Tuyến: “Tất cả những cơ quan công ích được nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điêu chỉnh của luật hành chính và các luật khác đêu được gọi là công sở” [53, tr.
Như vậy, công sở bao gồm các cơ quan nhà nước, các tô chức xã hội, các bệnh viện, trường học. Theo nghĩa hẹp hơn, công sở là các cơ quan hảnh chính nhả nước, là các cơ quan trong bộ máy nhả nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành và điều hành thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Với hai cách hiểu nảy, công sở có nghĩa tương đồng với cơ quan. Đó là bộ phận của bộ máy nhả nước.
có chức năng, nhiệm vụ. có tính cơ cầu và quyền lực. Theo nghĩa thông thưởng vả phô biến nhất, công sở là trụ sở làm việc, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính văn phòng của các cơ quan công được nhà nước thành lập. Điều đỏ có nghĩa là công sở phải gắn với một không gian nhất định, có điện tích cụ thể, cơ sở vật chất cụ thể.
Công sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của cơ quan. “Công sở là nơi đề tô chức cắc cơ chế kiểm soát công việc hành chỉnh, soạn thao, xử lý văn bản phục vụ cho công việc chung, là nơi phối hợp hoạt động của các cán bộ công chức theo một cơ chế nhất định” [39, tr. Nói cách khác công sở là vỏ bọc vật chất để một cơ quan ton tại và phát triển. Công sở nói chung đều có những đặc điểm chủ yếu sau đầy: Thứ nhất, công sở là một pháp nhân.
Pháp nhân là một tô chức có đủ các điều kiện sau: - Được thành lập hợp pháp; - Có cơ câu chặt chẽ; - Có tài sản độc lập với cá nhân, tô chức khác và tự chịu trách nhiệm băng tài sản đó. - Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tô chức hoặc theo quyết 10 định của cơ quan Nhà nước có thâm quyên. Như vậy Công sở là một pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thâm quyền, có trụ sở hợp lý với vị trí pháp lý, tính chất, quy mô hoạt động của công sở, cỏ kinh phí hoạt động và có công sản đề thực thi công vụ.
Thứ hai, công sở là cơ sở đê báo đảm công vụ. Công sớ hoạt động đề thực thi quyên lực Nhà nước. Các công sở quản lý hành chính Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước đề hoạch định và quản lý quá trình thực thi các chính sách công, trong khi các công sở sự nghiệp chịu trách nhiệm về việc cung cấp các dịch vụ công như giáo dục, y tế. Thứ ba, công sở có quy chế cần thiết để thực hiện các chuyên môn do Nhà nước quy định.
Công sở có địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vẻ thực thi công vụ (các chính sách và các dịch vụ công) và cơ cấu tô chức được quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật và được hệ thông pháp luật dam bao thi hành. Trên đây lả ba đặc điểm cơ ban dé phân biệt công sở với các tô chức khác trong xã hội. Ngoài ra còn có một số đặc điểm khác như: công sở lả đơn vị cơ bản cầu thành hệ thông hành pháp hoạt động thường xuyên, liên tục; công sở có môi quan hệ mang tính thứ bậc (khái niệm “cap” trong co cau thir bac) dé đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ trong điều hành và có mối quan hệ mang tỉnh phối hợp (khái niệm “hệ”) để đám báo nguyên tắc phôi hợp (đồng bộ) trong hành động với các công sở khác trong hệ thống: công vụ được thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ, công chức; công sở hoạt động đê phục vụ lợi ích công, lợi ích của nhân dân. Khái niệm văn hóa công sở Văn hoá là toản bộ những hoạt động sảng tạo và giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tỉnh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Văn hoá là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sông và lao động. Văn hỏa tô chức được quan niệm lả: “Hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tô chức, tác động qua lại với cơ câu chính thức vả tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tô chức mà mọi người trong đó đều tuân theo một cách tự nguyện” [39, tr. Từ cách hiểu này, trong một giới hạn nào đó, chúng ta có thể hiểu văn hóa công sở là cách thức điều hành công sở, các chuân mực về tư tưởng, hành động của nhân viên trong công sở, được hình thành một cách có định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở.