Nghiên cứu vận dụng yếu tố lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sĩ khám phá yếu tố lịch sử trong phát triển tri thức toán học, ứng dụng vào dạy học đại số 9001, nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Hiểu biết của giáo viên Toán

1.2. Tri thức nội dung

1.3. Tri thức sư phạm

1.4. Vai trò của yếu tố lịch sử trong dạy học môn toán

1.4.1. Gợi động cơ hoạt động

1.4.1.1. Tăng động lực và phát triển thái độ tích cực đối với việc học toán

1.4.2. Tổ chức các hoạt động dạy học

1.4.3. Một số vai trò khác

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG MỘT SỐ YẾU TỐ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC TRI THỨC TOÁN HỌC TRONG DẠY HỌC ĐẠI SỐ 9

2.1. Hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn

2.2. Phương trình bậc hai một ẩn

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM THIẾT KẾ BÀI DẠY

3.1. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vận dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9

Vận dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 là một phương pháp giáo dục quan trọng. Nó không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm toán học mà còn kích thích sự tò mò và hứng thú trong học tập. Việc tích hợp lịch sử vào giảng dạy giúp học sinh nhận thức được quá trình phát triển của các khái niệm toán học, từ đó tạo ra một môi trường học tập sinh động và hiệu quả hơn.

1.1. Lịch sử toán học và vai trò của nó trong giáo dục

Lịch sử toán học cung cấp một cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của các khái niệm toán học. Nó giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của các kiến thức mà họ đang học. Việc này không chỉ làm phong phú thêm nội dung giảng dạy mà còn tạo động lực cho học sinh trong quá trình học tập.

1.2. Tại sao nên áp dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9

Áp dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 giúp học sinh thấy được sự liên kết giữa các khái niệm toán học và thực tiễn. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề.

II. Những thách thức trong việc vận dụng lịch sử toán học vào dạy học

Mặc dù việc vận dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Giáo viên cần phải có kiến thức vững vàng về lịch sử toán học để có thể truyền đạt một cách hiệu quả. Ngoài ra, việc tìm kiếm tài liệu và thông tin lịch sử phù hợp với nội dung giảng dạy cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thiếu tài liệu và thông tin lịch sử phù hợp

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu tài liệu và thông tin lịch sử phù hợp với nội dung giảng dạy. Giáo viên cần phải tìm kiếm và lựa chọn những thông tin có giá trị để tích hợp vào bài giảng.

2.2. Khó khăn trong việc kết hợp lịch sử vào chương trình giảng dạy

Việc kết hợp lịch sử toán học vào chương trình giảng dạy hiện tại có thể gặp khó khăn do khối lượng kiến thức cần truyền đạt. Giáo viên cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để không làm mất đi tính hệ thống của chương trình.

III. Phương pháp hiệu quả trong việc vận dụng lịch sử toán học

Để vận dụng hiệu quả lịch sử toán học trong dạy học đại số 9, giáo viên có thể áp dụng một số phương pháp như sử dụng câu chuyện lịch sử, tổ chức các hoạt động nhóm, và khuyến khích học sinh tự nghiên cứu. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách sinh động mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy độc lập.

3.1. Sử dụng câu chuyện lịch sử trong giảng dạy

Kể những câu chuyện về các nhà toán học và những phát minh của họ có thể tạo ra sự hứng thú cho học sinh. Những câu chuyện này giúp học sinh hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của các khái niệm toán học.

3.2. Tổ chức hoạt động nhóm để khám phá lịch sử toán học

Tổ chức các hoạt động nhóm cho phép học sinh cùng nhau khám phá và thảo luận về lịch sử toán học. Điều này không chỉ giúp học sinh học hỏi lẫn nhau mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lịch sử toán học trong dạy học đại số 9

Việc ứng dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi học sinh được tiếp cận với lịch sử toán học, họ có xu hướng hứng thú hơn với môn học và đạt kết quả tốt hơn trong học tập.

4.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của việc áp dụng lịch sử toán học

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng lịch sử toán học trong giảng dạy giúp học sinh cải thiện khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề. Học sinh có thể thấy được sự liên kết giữa lý thuyết và thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng học tập.

4.2. Ví dụ thực tiễn về việc áp dụng lịch sử toán học

Một số giáo viên đã thành công trong việc áp dụng lịch sử toán học vào bài giảng của mình. Họ đã sử dụng các câu chuyện về các nhà toán học nổi tiếng để minh họa cho các khái niệm đại số, từ đó tạo ra sự hứng thú cho học sinh.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của việc vận dụng lịch sử toán học

Việc vận dụng lịch sử toán học trong dạy học đại số 9 là một xu hướng tích cực trong giáo dục hiện đại. Nó không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm toán học mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu và tài liệu hơn để hỗ trợ giáo viên trong việc áp dụng lịch sử toán học vào giảng dạy.

5.1. Tương lai của việc áp dụng lịch sử toán học trong giáo dục

Tương lai của việc áp dụng lịch sử toán học trong giáo dục sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của các tài liệu và phương pháp giảng dạy. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để tìm ra những cách thức hiệu quả nhất trong việc tích hợp lịch sử vào chương trình giảng dạy.

5.2. Khuyến nghị cho giáo viên trong việc áp dụng lịch sử toán học

Giáo viên nên chủ động tìm kiếm và sử dụng các tài liệu lịch sử phù hợp để tích hợp vào bài giảng. Việc này không chỉ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học mà còn nâng cao chất lượng dạy học.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hiểu biết của giáo viên Toán Đã có nhiều nghiên cứu quốc tế về những hiểu biết cần thiết của người giáo viên toán, khẳng định tầm quan trọng của những tri thức về lịch sử toán - tri thức luận. Mục này được viết dựa trên [14], [12], theo đó, hai cấu phần quan trọng làm nên tri thức cần thiết của người giáo viên toán là tri thức nội dung (Content Knowledge - CK) và Tri thức sư phạm về nội dung (Pedagogical Content Knowledge - PCK) 1. Tri thức nội dung Khái niệm tri thức nội dung dùng đề chỉ cả số lượng và tổ chức kiến thức của giáo viên trong một lĩnh vực (môn học) nhất định mà người đó phụ trách.

Đã có một số cách để đại diện cho kiến thức nội dung: Phân loại nhận thức của Bloom, giống của Gagne về học tập, sự khác biệt của Schwab giữa cấu trúc nội dung và cú pháp về kiến thức và quan niệm của Peters song song với Schwab. Trong các lĩnh vực chủ đề khác nhau, các cách thảo luận về cấu trúc tri thức nội dung khác nhau. Suy nghĩ đúng về tri thức nội dung đòi hỏi phải vượt ra ngoài kiến thức về các sự kiện hoặc khái niệm của một tri thức. Schwab (1978) xem xét nội dung một chủ đề ở cả mặt số lượng (những khái niệm, định lý, luận điểm,.) và mặt cấu trúc (quan hệ giữa các thành phần nội dung đó).

Các cấu trúc nội dung là nhiều cách khác nhau trong mà các khái niệm và nguyên tắc cơ bản của ngành học được tổ chức để kết hợp sự thật của nó. Cấu trúc cú pháp của một môn học là tập hợp các cách trong đó sự thật hay sự giả dối, tính hợp lệ hoặc sự vô hiệu, được thiết lập. Khi nào tồn tại các khiếu nại cạnh tranh liên quan đến một hiện tượng nhất định, cú pháp của một kỷ luật cung cấp các quy tắc để xác định yêu cầu nào có bảo đảm lớn hơn. Một cú pháp giống như một ngữ pháp.

Đây là bộ quy tắc để xác định điều gì là hợp pháp để nói trong một lĩnh vực kỷ luật và những gì "phá vỡ" các quy 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giáo viên không chỉ có khả năng xác định cho học sinh những tri thức trong một nội dung. Họ cũng phải có thể giải thích tại sao một cụ thể một tri thức được coi là học, tại sao nó đáng để biết và nó liên quan đến như thế nào các đề xuất khác, cả trong phạm vi và không có, cả về lý thuyết và trong thực hành. Giáo viên không chỉ cần hiểu rằng một tri thức có nội dung như thế nào, giáo viên phải hiểu thêm tại sao nó lại như vậy, trên cơ sở của nó có thể được khẳng định, và theo những gì cho thấy niềm tin của chúng ta vào sự biện minh.

Hay một tri thức mới ra đời làm mẫu thuẫn những tri thức mà ta đã biết. Vì vậy, cách thức giáo viên truyền đạt, giúp học sinh tiếp cận, hiểu được những nguồn gốc, ý nghĩa của những tri thức là điều quan trọng. Tri thức sư phạm giúp bổ sung những khuyến khuyết đó. Tri thức sư phạm Để minh họa cho tri thức sư phạm của giáo viên, Shulman lấy ví dụ về việc thực hiện phép tính (−1) · (−1) = 1.

Học sinh hoàn toàn có thể nắm được, lặp lại quy tắc thực hiện, lấy được kết quả đúng nhưng không biết được ý nghĩa của phép tính hay các ký hiệu đó: tại sao số âm nhân số âm lại ra số dương? Các khái niệm và cách ký hiệu đó ở đâu ra? có ý nghĩa gì? Để có thể trả lời trọn vẹn hoặc thuyết phục học sinh, người giáo viên cần nắm chắc những tri thức sư phạm liên quan. Tri thức sư phạm bao gồm kiến thức về chủ đề cụ thể và cách hình thành chủ đề làm cho nội dung dễ hiểu đối với người khác. Theo Shulman, người giáo viên không chỉ hiểu nội dung của một chủ đề như thế nào, giáo viên phải hiểu thêm tại sao nó được đưa vào chương trình, ý nghĩa của kiến thức mình đang dạy. Kiến thức về tiềm năng của các nhiệm vụ toán học cho việc học là điều quan trọng của tri thức sư phạm.

Trong phạm trù tri thức sư phạm cho các chủ đề được dạy thường xuyên nhất trong chủ đề của một người khu vực, các hình thức đại diện hữu ích nhất của những ý tưởng đó, mạnh mẽ nhất tương tự, minh họa, ví dụ, giải thích và trình diễn trong một từ, những cách thể hiện và hình thành chủ đề tạo nên nó dễ hiểu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho người khác. Vì không có hình thức mạnh nhất đại diện, giáo viên phải có trong tay một vũ khí thực sự của hình thức đại diện thay thế, một số trong đó xuất phát từ nghiên cứu trong khi những người khác bắt nguồn từ sự khôn ngoan của thực hành. Tri thức sư phạm bao gồm sự hiểu biết kiến thức về nội dung. Điều gì làm cho việc học các chủ đề cụ thể trở nên dễ dàng hay khó khăn: các khái niệm và định kiến mà học sinh ở các độ tuổi và hoàn cảnh khác nhau mang theo để học những chủ đề và bài học thường xuyên nhất.

Nếu những định kiến là những quan niệm sai lầm, mà chúng thường là như vậy, giáo viên cần kiến thức về các chiến lược rất có thể sẽ có kết quả trong việc sắp xếp lại sự hiểu biết của người học, bởi vì những người học đó dường như không xuất hiện trước chúng như những tấm trống. Người giáo viên có tri thức nội dung như "người thợ", còn người giáo viên có cả tri thức sư phạm thì như người "kĩ sư". Chuyên nghiệp nắm giữ kiến thức, không chỉ giỏi năng lực thực hiện kỹ năng mà còn trả lời được cái gì và tại sao của một tri thức. Giáo viên không chỉ là một bậc thầy về các bước làm mà còn về nội dung và lý do, và có khả năng giải thích tại sao một cái gì đó được thực hiện.

Giáo viên là có khả năng phản ánh dẫn đến kiến thức bản thân phân biệt với kiến trúc sư, kế toán viên.[14, Shulman] Làm thế nào môn học đã được chuyển từ kiến thức của giáo viên thành nội dung hướng dẫn. Họ cũng không hỏi công thức cụ thể của nội dung đó như thế nào liên quan đến những gì học sinh biết hoặc hiểu sai. Trọng tâm là cách giáo viên quản lý lớp học, tổ chức các hoạt động, phân bổ thời gian và hoạt động, phân công cấu trúc, khen ngợi, xây dựng mức độ câu hỏi, kế hoạch bài dạy, và đánh giá sự hiểu biết chung của học sinh. Những gì chúng ta bỏ lỡ là những câu hỏi về nội dung của các bài học được dạy, các câu hỏi và giải thích được đưa ra.

Kiến thức giáo viên giải thích đến từ đâu? Làm thế nào để giáo viên quyết định dạy cái gì, làm thế nào để trình bày nó, làm thế nào để hỏi học sinh về nó và làm thế nào để giải quyết vấn đề hiểu lầm? Tâm lý học nhận thức đã tập trung gần như về những câu hỏi như vậy trong những năm gần 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đây, nhưng hoàn toàn từ quan điểm của người học. Giáo viên biết quá trình nghiên cứu kiến thức mới của các nhà toán học không? Kiến thức mới, cũ được hình thành như thế nào? kiến thức được lấy, và cả hai kết hợp để tạo thành một nền tảng kiến thức mới? Học sinh trung học có thể hiểu? Khi học sinh hiểu sai hoặc khó khăn trong tiếp nhận các tri thức, làm thế nào để giáo viên sử dụng chuyên môn nội dung để tạo ra các giải thích, biểu diễn mới. Lịch sử toán học chính là một nguồn tài liệu phong phú giúp giáo viên trả lời được các câu hỏi trên. Vậy lịch sử toán học có những vai trò gì trong giáo dục toán học? Phần tiếp theo là một số vai trò của lịch sử toán học mà chúng tôi nghiên cứu.

Vai trò của yếu tố lịch sử trong dạy học môn toán Danh sách Fauvel [10] đã chỉ ra mười lăm lí do nên vận dụng lich sử toán trong dạy học Toán bao gồm gợi động cơ, nhận thức, tính nhân văn, tính thực tiễn của toán học. Hơn nữa, lịch sử toán học có thể là một tài nguyên hữu ích để hiểu các quá trình hình thành tư duy toán học, và để khám phá cách thức sự hiểu biết có thể được sử dụng trong việc thiết kế các hoạt động trong dạy học. Trên cơ sở danh sách Fauvel đưa ra và phương pháp dạy học môn toán, mục này đưa ra hai vai trò của lịch sử toán trong dạy học là: Gợi động cơ hoạt động và Tổ chức một số hoạt động dạy học. Gợi động cơ hoạt động a.

Tăng động lực và phát triển thái độ tích cực đối với việc học toán Ý tưởng khơi gợi học sinh quan tâm và phát triển thái độ tích cực đối với việc học toán bằng cách sử dụng lịch sử đã thu hút sự chú ý đáng kể. Nhiêu nhà nghiên cứu giáo dục toán học và giáo viên tin rằng toán học có thể được tạo hứng thú nhiều hơn bằng cách giới thiệu tích cách của các nhà toán học và các vấn đề lịch sử mà học sinh quan tâm. Học sinh có thể có một ý tưởng về những phát triển quan trọng liên quan đến các chủ đề toán học là thú vị cho họ đã xảy ra bằng cách học lịch sử. Họ có thể thấy rằng toán học là một khoa học mà mọi người tạo ra 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp với nhu cầu của mọi người.

Họ có thể sẵn sàng học hỏi như lịch sử toán học cho thấy những truyền thống lâu đời, những nền văn hóa khác nhau, cảm xúc và sự phát triển của mọi người. Philippou và Christou (1998) cũng báo cáo rằng các giáo viên tương lai và quan điểm của toán học cho thấy sự thay đổi căn bản sau khi họ tham gia hai khóa học toán học lịch sử trong một chương trình dự bị. Một giáo viên trả lời: "Lịch sử toán học cung cấp cho tôi nhiều trải nghiệm mới thú vị. Qua khóa học tôi nhận ra rằng toán học luôn luôn và tiếp tục là một môn học rất hữu ích.

Khóa học cho tôi thấy rằng toán học, ít nhất là đôi khi, là một hoạt động của con người. Tôi cảm thấy tự tin hơn khi tôi nhận ra rằng ngay cả những nhà toán học vĩ đại cũng mắc sai lầm".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ