mở đầu mùa cày cấy làm ăn cho nhân dân. Và cũng vào những dịp đầu năm, nhà vua thường ra chiếu khuyến nông để khuyên răn nhân dân chăm lo bản nghiệp, không nên “bỏ gốc theo ngọn” và nhắc nhở quan viên đôn đốc nhân dân lo tu bổ 17 V-Le / 15 AC đê điều, đào muong, đắp bờ. Để thực hiện chính sách trọng nông, phát triển nền kinh tế nông nghiệp, triều đình còn lập ra chức quan khuyến nông chăm lo việc cày cấy, đê điều. Đặc biệt, vào những năm mất mùa hay bị tai dị như hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh, động đất,.nhà vua thường ra chiếu “tự trách”, chiếu “cầu nói thẳng” tỏ rõ sự quan tâm đến sản xuất nông nghiệp và tình cảnh nhân dân.
Sau những tờ chiếu, nhà vua sai “khoan phú khinh hình” miễn giảm tô thuế cho vài địa phương mất mùa, bất hình quan xét lại các ngục tụng hoặc tha tù phạm. Vào những năm thiên tai ấy, nhà vua còn tự thân đi cầu đảo, làm chay cúng tế. Như năm 1434, mùa hạ trời hạn lâu, Lê Thái Tổ đã sai rước Phật ở chùa Pháp Vân về kinh cầu mưa và sai làm cơm chay ở điện Cân Chánh. Do mấy năm liền bị hạn hán, năm 1449, Lê Nhân Tông sai lập ngay ở kinh đô đắp đến thờ mây, mưa, sấm, gió, để hàng năm tế tự và cầu cúng.
Năm 1477, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các quan thừa hiến các phủ, huyện “hạn mà không kỳ đảo, tai dị mà không cầu cúng” thì bị khép vào tội lưu. Tất cả các biện pháp mê tín trên đây, đều phản ánh sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên, trong điều kiện sức sản xuất còn thấp kém, đây cũng là mặt tiêu cực của chính sách trọng nông. Thời Lê sơ, thủ công nghiệp tồn tại dưới hai hình thức, đó là thủ công nghiệp trong nhân dân và thủ công nghiệp của nhà nước.Trong dân gian, ngoài sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, người nông dân còn có những nghề phụ khác như đệt vải, đan lát, làm gốm, làm trong những lúc nông nhàn, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong gia đình và trao đổi trong các vùng nhỏ hẹp ở địa phương. Ngoài nghề phụ gia đình, thời Lê sơ đã xuất hiện những thợ thủ công với những làng nghề tương đối phát triển.
Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết, thời kỳ đó có nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng như: nghề trồng dâu, đay, gai ở Bát Bạt (Sơn Tây), nghề gốm ở Bát Tràng, nghề vôi ở Yên Thế, nghề dệt lụa ở Thanh Oai. Tại một số thị trấn, thị tứ đã hình thành nên những phường chuyên môn. Thăng Long trong thời Lê sơ có 36 phường. như phường '“Tàng Kiếm làm kiệu.
18 đỏ, đài, mâm, áo giáp, võng, gấm, dù, lọng, phường Yên Thái làm giấy, phường Thuy Chương và phường Nghĩ Tàm dệt vải nhỏ và lụa, phường Hà Tân nung đá vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều. Tổng cộng trong cả nước có 83 phường”[45. Các phường hội này chính là tổ chức nghề nghiệp của thợ thủ công (và của thương nhân) mang nặng tính chất phong kiến, nhưng nó cũng phản ánh một trình độ phát triển và chuyên môn hoá của thủ công nghiệp. Góp phần vào sự phát triển của thủ công nghiệp còn có các công xưởng của nhà nước với tên gọi chung là cục Bách tác.
Cục này chuyên đúc tên, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, làm các đồ dùng cho vua quan như mũ, áo, giây,. thậm chí ngay cả nhà vua cũng có một khu đệt vải, lụa do các cung nữ phụ trách. Thợ thủ công nhà nước (công tượng) ban đầu là những người có tay nghề giỏi được tuyển chọn, về sau là thợ “tài hoa” được tuyển chọn theo chế độ lao dịch. Hàng năm, triều đình thường phái người về các nơi, hoặc giao cho các quan phủ, huyện bat thợ thủ công có tài đem nộp cho triều đình.
Chế độ công tượng là một chế độ lao dịch, cưỡng bức với tổ chức đội ngũ như quân lính. Từ năm 1466, công tượng cũng chia làm hai, một nửa ở lại làm việc và một nửa về quê làm ruộng. Trong thời gian làm việc trong cục Bách tác, công tượng phải làm việc dưới sự giám sát của giám đường và chủ ty, nếu chưa hết hạn mà trốn về thì sẽ bị truy bắt như binh lính đảo ngũ. Trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp tương đối phát triển ấy, đã tạo điều kiện cho sự trao đổi hàng hoá và lưu thông hàng hoá, tiền tệ trong nước được nâng lên một trình độ mới.
Nhưng do ảnh hưởng của chính sách “trọng nông” đã làm cho hoạt động kinh tế hàng hoá có phần bị giảm sút. Trong hoạt động thương nghiệp nội địa, chủ yếu là sự trao đổi giữa các địa phương có phần phát triển nhưng còn ngoại thương thì vẫn bị bế quan toả cảng. Việc mở mang sông ngòi, phục vụ giao thông và nông nghiệp. đã khiến cho sự lưu thông giữa các địa phương có nhiều thuận lợi.
Tình hình đó góp phần kích thích việc trao đổi hàng hoá trong nội địa, hình thành những trung tâm buôn bán. Ngoài trung tam Thăng Long vốn đã sầm uất từ thời Lý - Trần, thì tới thời Lê sơ. nó ngày càng được mở mang và sầm uất hơn, còn ở các làng xã địa phương đều có chợ để lưu thông hàng hoá, trao đổi, mua bán các sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp. Nhà nước còn quy định “Lệ lập chợ” ở các địa phương, cho phép “Cac xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới, nhưng ngày phiên của chợ mới không được họp trùng với chợ cũ hay trước ngày phiên của chợ cũ để tránh tình trạng tranh chấp khách hàng của nhau”.
Năm 1477, Lê Thánh Tông còn quy định lệ thành lập chợ mới: “Sinh dân ngày càng đông, muốn chia lập chợ mới cho tiện việc buôn bán, thì quan phủ, huyện, châu khám thực, nếu quả tiện cho dân thì lập tờ trang tâu lên, theo chỗ tiện mà họp chợ không cầu lệ ngạch cũ có hay không”{39, tr. Chính sự thành lập các chợ làm trung tâm buôn bán địa phương ấy, chứng tỏ sự hình thành và phát triển các thị trường địa phương, đồng thời thúc đẩy nội thương phát triển. Tuy nhiên, kinh tế hàng hoá thời Lê sơ vẫn bị kìm hãm nhiều vì chính sách “ức thương”, bế quan toả cảng của nhà nước, vì nạn cướp bóc, ức hiếp của quan lại, cường hào. Úc chế thương nghiệp là một chính sách truyền thống của giai cấp phong kiến.
Chính sách ấy bắt nguồn từ cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến, từ quyền lợi của giai cấp phong kiến muốn củng cố nông nghiệp, trói buộc người nông dân vào ruộng đất để bóc lột. Chính quyền nhà nước phong kiến thời Lê sơ hạn chế và hầu như cấm chỉ không cho nông dân rời bỏ quê hương, ruộng đất đi buôn bán, làm ăn tập trung ở các thị trấn. Vì vậy, quá trình tách rời nông nghiệp và thủ công nghiệp, quá trình hình thành phát triển các thành thị rất khó khăn. Thời bấy giờ, Thăng Long là thị trấn, là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đã tập trung được một số lớn thợ thủ công và thương nhân.
triều đình ra lệnh đuổi tất cả những người “tạp cư” ở kinh đô, kể cả những người có cửa hàng cửa hiệu và vào số thuế rời về nguyên quán, ra khỏi đô thành. Hành động quá khích này đã khiến cho Phó đô ngự sử Quách Đình Bảo phải đâng sớ để can ngăn: 20 “(Như thế thần). thiết sợ rằng, đất kinh sử việc buôn bán sẽ giảm sút, không giữ được về phồn thịnh, không những kẻ hành hương buôn bán phần nhiều sẽ thất nghiệp mà chợ búa phố xá sợ rồi sẽ vắng vẻ; thuế ngạch sẽ thiếu thốn, thật là bất tiện. Vì thế (thần) xin trấn tâu: trừ kẻ tạp cư vô loại nên đuổi đi, còn những người vốn có phố xá, cửa hàng trước đã vào ngạch thuế rồi, thì nên cho cư trú, mua bán kinh dinh, cho nhập vào bản phường nạp thuế như lệ”{40, tr.
Bên cạnh chính sách “ức thương” ấy, bọn quan lại, cường hào lại hay cậy quyền cậy thế ức hiếp, mua rẻ, bán đắt, gây nhiều khó khăn cho kinh tế hàng hoá. Chính vì vậy mà Nhà nước buộc phải hạn chế tình trạng trên bằng cách, như vào tháng giêng năm 1497, Lê Thánh Tông ra lệnh nghiêm cấm người trong các cung, người nhà trong các phủ của vương hầu, công chúa và các nhà đại thần không được ức hiếp để mua rẻ hay mua mà không trả tiền cho nhân dân: “Cấm các nữ sử ở nội phủ, phủ công chúa, nhà các đại thần, có mua đồ vật gì của nhân dân hương thôn bán trong chợ, không được quen thói cũ, mượn tiếng công, mưu lợi riêng, mua hiếp giá hời, cùng là cướp lấy không tiền”|40, tr. Đối với ngoại thương, nhà nước thời Lê sơ thi hành một chính sách hạn chế, kiểm soát chặt chẽ hầu như bế quan toả cảng. Theo 2w đ;a chí của Nguyễn Trãi thì tất cả người ngoại quốc vào buôn bán ở nước ta chỉ được ở các nơi quy định như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Càn Hải (tức cửa Cờn ở Nghệ An), Hội Thống (Cửa Hội ở Nghệ An), Hồi Triều (ở Thanh Hoá), Song Lãnh (ở Lạng Sơn), Phú Lương (ở Thái Nguyên), Tam kỳ (ở Tuyên Quang).
Tàu thuyền ngoại quốc ra vào, buôn bán chỉ được đậu ở Vân Đồn, ở đó có cơ quan nhà nước kiếm soát rất nghiêm ngặt. Nhân dân và cả quan, quân không có lý do mà tới Vân Đồn hay biên giới, bờ biển giao thiệp hay mua bán với người nước ngoài đều bị phạt rat nang. Theo Đại Việt sứ ký toàn thư, vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467) đời Lê Thánh Tông, có tàu buôn Xiêm La đến Vân Đồn dùng tờ biểu bằng vàng lá, cùng cả hiến vật vua từ chối "40. Chính sách hạn chế ngoại thương hầu 21 như bế quan tỏa cảng ấy, theo những "chiếu, chỉ” của nhà vua là nhằm tự vệ, ngăn ngừa các âm mưu, xâm lược của nước ngoài, đúng như GS.
Vương Hoàng Tuyên cho rằng: “sở dĩ các nhà vua triều Lê, điều hành chính sách bế quan toả cảng nghiêm ngặt là vì đất nước mới trải qua hàng chục năm đấu tranh gian khổ chống ngoại xâm để giành độc lập. Nên nhà nước rất cảnh giác với âm mưu đò xét và xâm lược của nước ngoài, nên đã nghiêm cấm sự qua lại của các thuyền ngoại quốc, và các thuyền ngoại quốc đến chẳng những chỉ đơn thuần buôn bán, mà còn để dò xét tình hình trong nước nữa”[69, tr. Nhưng thực ra, về căn bản, đó là một mặt của chính sách ức thương nói chung của nhà nước phong kiến thời Lê sơ lúc bấy giờ.