mở đầu câu chuyện nhƣ thế nào.[18] Comment [W8V213]: Đƣa vào danh mục tài liệu tham khảo và đánh số tài liệu Các kết quả Nnghiên cứu của Laffety và công cộng sự (2008) cho thấy cha mẹ và nhân viên chăm sóc miễn cƣỡng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ và họ cho rằng việc giáo dục giới tính cho trẻ có thể làm trẻ tổn thƣơng và có những hành vi tình dục không mong muốn. Do vậy, khi giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ, họ chỉ chú ý dạy cách phản ứng hơn là hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệ cách đáp ứng và phòng vệ với những vấn đề tình dục xảy ra. Comment [W8V214]: Xem lại tài liệu này vì không giống nhau Formatted: Vietnamese Meaney và cộng sự (2012) trong nghiên cứu “Đặc điểm của nhân viên và thái độ đối với tình dục của ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ” cho thấy tuổi và đƣợc trình độ đào tạo và hiểu biết của nhân viên chăm sóc có ảnh hƣởng rất nhiều đến thái độ của họ về vấn đề tình dục ngƣời khuyết tật trí tuệ.[25] Năm 2005, Bucknall nghiên cứu tại Ireland và nhận thấy ngƣời có khuyết tật trí tuệ thiếu thông tin về tình dục và ít đƣợc , giáo dục về giới tính. Giới tính và tình dục thƣờng đƣợc xem là những chủ đề cấm kỵ đối với các giá trị cá nhân, và niềm tin tôn giáo thƣờng làm lu mờ sự cần thiết phải cung cấp thông tin chính xác và dễ tiếp cận (Irwin, 1993).
Một số ngƣời cho rằng không muốn thảo luận về các vấn đề tình dục có liên quan đến nỗivì lo ngại rằng cuộc thảo luận có Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese thể khuyến khích thanh niên đặc biệt quan hệ tình dục (Cambridge 1996). [dẫn Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese theo 32] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của Mc Carthy và Thompson (1994) dựa trên các cuộc phỏng vấn 220 ngƣời có khuyết tật trí tuệ đã phát hiện ra nhiều ngƣời có khuyết tật về Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese trí tuệ chƣa giữ đƣợc sự riêng tƣ trong vấn đề quan hệ tình dục, một số ngƣời đàn ông tiết lộ họ thƣờng xuyên quan hệ tình dục ở nơi công cộng. Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese Một nghiên cứu ở Úc (Mc Cabe, 1999) đã khám phá kiến thức, kinh Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese nghiệm, cảm xúc và nhu cầu về tình dục của ngƣời có khuyết tật về trí tuệ hoặc Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese khuyết tật về thể chất và so sánh nhu cầu và kinh nghiệm của họ với mọi ngƣời nói chung. Nghiên cứu liên quan đến 60 ngƣời lớn có khuyết tật về trí tuệ nhẹ, 60 ngƣời trƣởng thành bị khuyết tật về thể chất và một trăm100 ngƣời lớn từ dân Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese chúng nói chung.
Mc Cabe chỉ ra, có 50% ngƣời đƣợc hỏi có khuyết tật đã nhận đƣợc một số hình thức giáo dục giới tính, so với hơn 80% dân số nói chung. Nghiên cứu cho thấy ngay cả khi giáo dục sức khoẻ tình dục đã đƣợc cung cấp vẫn cần nhiều nỗ lực hơn để cải thiện kiến thức về tình dục của ngƣời khuyết tật. Trong số những ngƣời trả lời không khuyết tật, nguồn chính của giáo dục giới tính hầu hết là từ cha mẹ, gia đình và bạn bè. Những ngƣời bị khuyết tật có nhiều khả năng nhận thông tin tình dục của họ từ các nguồn khác nhƣ các phƣơng tiện truyền thông và các lớp học giáo dục giới tính chính thức.
Điều này cho thấy có ít cuộc thảo luận về các vấn đề tình dục với gia đình và bạn bè trong số những ngƣời trả lời bị khuyết tật, từ đó có thể truyền tải những thông điệp tiêu cực cho những ngƣời có một khuyết tật về tình dục của họ.[dẫn theo 34] Nói tóm lại, nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài tập trung chủ yếu vào Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese tìm hiểu thái độ của mọi ngƣời xung quanh về vấn đề ứng phó với stress, cảm xúc, thái đôđộ, quan điểm của nhân viên, giáo viên cộng đồng trong giáo dục Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese giới tính và hiệu quả trong giáo dục giới tính cho ngƣời có khuyết tật trí tuệ. Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese Formatted: Font: 14 pt, Vietnamese Những nghiên cứu riêng về sự ứng phó với các vấn đề tình dục, bao gồm cả lạm dụng tình dục ở ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ chƣa phải là nhiều. Các nghiên cứu về giáo dục giới tính dành cho ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ nói riêng càng ít hơn. Đây là khoảng trống lớn trong các nghiên cứu về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời khuyết tật nói chung, ngƣời có khuyết tật trí tuệ và ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ nói riêng.
Các nghiên cứu trong nước Formatted: Font: Italic Formatted: Indent: Hanging: 0.39", Space Các Những nghiên cứu trong nƣớc về khả năng ứng phó chủ yếu đƣợc đề Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines, Tab stops: Not at 0.49" cập đến ở các khía cạnh về nhƣ: ứng phó với thiên tai, ứng phó với stress, ứng Formatted: Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines phó với biến đổi khí hậu,… còn rất ít hoặc chƣa có đề tài nào đề cập đến khả năng ứng phó với lạm dụng tình dục của trẻ ngƣời có khuyết tật trí tuệ nói chung, ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ nói riêng. Tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng (2014) với nghiên cứu “Ứng phó với cảm xúc tiêu cực của học sinh trung học cơ sở” cho thấy, nhìn chung học sinh chƣa có cách ứng phó phù hợp với các cảm xúc tiêu cực (ĐTB = 2,65). Cách ứng phó của các em ở mức trung bình nhƣng tiệm cận với mức ít hiệu quả. Các em ứng phó theo thói quen, không hiệu quả và không có chiến lƣợc ứng phó rõ ràng.
Tác giả cũng chỉ ra xu hƣớng ứng phó chung của học sinh trung học cơ sở là ứng phó tập trung vào nhận thức. Nhƣ vậy, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề lạm dụng tình dục ở trẻ em nói chung, trẻ emtrẻ có khuyết tật trí tuệ và ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ nói riêng. Bên cạnh đó, cũng có những tác giả đƣa ra những các nghiên cứu về mô hình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật nhằm mục đíchgiúp trẻ hình thành khả năng ứng phó với lạm dụng tình dục. Tuy nhiên, rất ít đề tài nào đi sâu nghiên cứu khả năng ứng phó với lạm dụng tình dục ở ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ.
Từ đóĐây là khoảng trống rất lớn và tạo cơ hội để tác giả bƣớc đầu tìm hiểu, đề tài khả năng “Ứng phó với lạm dụng tình dục ở ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ”. Đề tài này đƣợc tiến hành nghiên cứu về mức độ và cách thức ứng phó với lạm dụng tình dục của ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ;. Ttrên cơ sở nàyđó, đề xuất mô hình những bài tập giáo dục kỹ năng sống giúp ngƣời chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ hình thành khả năng ứng phó với lạm dụng tình dục. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số vấn đề lý luận về ứng phó với lạm dụng tình dục ở ngƣời Formatted: Justified, Indent: Left: 0", First line: 0", Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines, Tab stops: 0.2", Left chƣa thành niên có khuyết tật trí tuệ. Khái niệm Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Ứng phó” là hành động đáp lại nhanh nhạy, Formatted: Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines kịp thời, trƣớc những tình huống mới, bất ngờ. Comment [W8V215]: Danh mục tài liệu Theo Lazarus và Folkman, “Ứng phó” là sự thay đổi nhận thức và nỗ lực của cá nhân nhằm phản ứng lại với hoàn cảnh bằng nguồn lực hoặc vƣợt qua nguồn lực của bản thân. Nói cách khác, ứng phó là “Nnhững nỗ lực thay đổi hành vi và nhận thức nhằm kiểm soát đòi hỏi từ phía bên ngoài hoặc bên trong, vƣợt qua khả năng của con ngƣời” [dẫn theo 7].
Tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng quan niệm: “Ứng phó” là cách thức đƣơng đầu và giải quyết những tình huống khó khăn, những tình huống “có vấn đề” mà trƣớc đó cá nhân chƣa có kinh nghiệm với nó. Trong Tâm lý học có 4 hƣớng nghiên cứu để lý giải “Ứng phó”: Comment [W8V216]: Xem lại các tài liệu trích dẫn và chỉnh sửa theo đúng mẫu (1) Hƣớng tiếp cận coi ứng phó nhƣ là sự phòng vệ của cái tôi: Một nghiên Formatted: Indent: First line: 0.39", Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines, Tab stops: 0.69", Left + Not at 0" cứu liên quan đến ứng phó đã tập trung vào vai trò của phòng thủ, ví dụ nhƣ trong nghiên cứu của Haan (1969), Menninger (1963) và Vaillant (1977) đã quan tâm đến bệnh học và vai trò của phòng vệ đối với ứng phó trong tâm thần học. Các tác giả quan điểm rằng mọi hình thức của bệnh tâm thần học đều liên quan đến một cơ chế phòng vệ nào đó. Quan điểm này đƣợc thể hiện thông qua lý thuyết của Freud qua về các giai đoạn phát triển tâm tính dục trẻ em: sự phát triển tâm lý của một đứa trẻ trải qua chấn thƣơng, các xung đột chính, sự phát triển nhận thức, tất cả đều là cơ chế phòng vệ.
Trong hHƣớng tiếp cận này đề cậpcho rằng đến mỗi cá nhân, nhóm đều có những thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh nhằm đáp ứng yêu cầu.[dẫn theo 39] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (3) Hƣớng tiếp cận coi ứng phó nhƣ là đặc điểm riêng biệt trong nhân cách cá nhân: trong một số lĩnh vực tâm lý học (đặc biệt là những tác giả tập trung vào nhận thức, cảm xúc và sự phát triển tính cách), cách tiếp cận ứng phó tiếp tục phát triển khi áp dụng vào giải quyết các vấn đề mới. Các tác giả Schwarzer và Taubert (2002), Folkman và Moskowitz (2004) và Folkman (2011) đã cho rằng đối với các đánh giá về nhận thức khác nhau thì ứng phó khác nhau .[dẫn theo 39] (4) Hƣớng tiếp cận coi ứng phó là mặt năng động của chủ thể: Lazarus và Folkman (1984) đã đƣa ra mô hình một cá nhân trải qua những nỗ lực giải quyết các tình huống căng thẳng. Mô hình này cho thấy sự tƣơng tác giữa cá thể và tình huống căng thẳng. Các tác giả cũng xác định căng thẳng nhƣ là một mối quan hệ cụ thể giữa cá nhân và môi trƣờng.