Chương 1: Những cơ sở lý thuyết Trong chương này, luận văn sẽ trình bày lịch sử khái niệm, lịch sử ứng dụng của kết vị. Mặt khác, do Nguyễn Đăng Liêm đã ứng dụng ngữ pháp cách trong việc miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, cho nên luận văn này cũng sẽ nêu bật khái niệm về hình thái cách và quan hệ cách. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Luận văn sẽ đi vào mô tả những áp dụng của Nguyễn Đăng Liêm về ngữ pháp cách khi miêu tả ngữ pháp tiếng Việt. Theo đó, tác giả miêu tả, phân tích ngữ pháp tiếng Việt theo hướng so sánh đối chiếu của hình thái cách và quan hệ cách.
Trong chương này, chúng tôi cũng nêu bật cụ thể hệ thống các hình thái cách và quan hệ cách. Chương 3: Dựa trên khái niệm về kết vị, quan hệ cách và hình thái cách, chúng tôi đã miêu tả lại sự phân loại các loại tiểu cú, lớp tiểu cú và đơn vị tiểu cú của Nguyễn Đăng Liêm. Trong đó, Nguyễn Đăng Liêm cũng phân loại vị từ tiêu biểu đại diện các nhóm. Chương 4: Vận dụng các khái niệm của chương 2 và chương 3, chúng tôi cũng miêu tả lại việc xác định các loại câu, lớp câu và đơn vị câu theo quan điểm của Nguyễn Đăng Liêm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1.
Những cơ sở lý thuyết 1.Kết vị và kết vị học 1. Khái niệm về kết vị Trường phái cấu trúc luận Mỹ có một bước tiến triển mới với sự ra đời của kết vị học (tagmemics) do K. Trong kết vị học, đơn vị ngữ pháp cơ bản là kết vị (tagmeme). Thuật ngữ kết vị được Bloomfield sử dụng vào năm 1933 để chỉ các đơn vị nhỏ nhất của hình thức ngữ pháp có nghĩa.
Theo định nghĩa của Wikipedia [53], kết vị còn tương quan như là một chức năng cú pháp ví dụ như là chủ đề, chủ ngữ và các từ loại như danh từ, đại từ hoặc danh từ riêng. Các kết vị kết hợp với nhau tạo thành hệ thống kết vị. Trong tác phẩm “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” GS.TS Nguyễn Thiện Giáp [14] đã đề cập đến kết vị. Theo đó, kết vị là mối tương quan của một chức năng ngữ pháp loại biệt với lớp các đơn vị thực hiện chức năng này.
Nói cách khác, mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vị ngữ, trung tâm (head), bổ ngữ (modifier) mà các đơn vị thuộc các lớp của nó (danh từ, danh ngữ, động từ, đoản ngữ vị từ, tính từ) có khả năng thực hiện. Cả ô và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thể hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thể được chuyển hóa từ cái kia. Như vậy, kết vị là một đơn vị được trừu tượng hóa về mặt ngữ pháp và là đơn vị của ngữ pháp nói chung và cú pháp nói riêng. Xét về bản chất, nó gần tương đương như thành phần câu, thay vì tên gọi là chủ ngữ, bổ ngữ…thì Nguyễn Đăng Liêm gọi là kết vị.
Kết vị có thể bao gồm một hoặc nhiều nét khu biệt ngữ pháp. Trong đó, nét khu biệt ngữ pháp là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất mà phân biệt ý nghĩa, nhưng bản thân nó không mang nghĩa [14: 112]. Khái niệm về kết vị học Kết vị học là khoa học nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ. Trong cuốn sách “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” [14], từ trang 112 đến trang 116, Nguyễn Thiện Giáp đã vẽ lại bức tranh về lịch sử nghiên cứu về kết vị học, từ người khởi xướng là Pike [1912, 1967, 1982], Longacre Robert E.
Kết vị học dựa trên giả định rằng ngôn ngữ không thể nhìn nhận như là 1 hệ thống tự chủ và do đó, ngôn ngữ học không thể là ngôn ngữ tự chủ mà phải dựa trên những phân tích sâu hơn từ tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học. Kết vị học dựa trên bốn giả định sau: (1) Ngôn ngữ là… một kiểu hành vi của con người 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (2) Như vậy, ngôn ngữ phải được xem xét trong ngữ cảnh và trong quan hệ với hành vi của con người như là cái tổng thể (3) Một lý thuyết ngôn ngữ học thỏa đáng là lý thuyết có thể ứng dụng cho các kiểu hành vi khác và ứng dụng cho sự kết hợp của hành vi ngôn từ và hành vi phi ngôn từ. Như thế, nó là một lý thuyết thống nhất. (4) Hành vi của con người được cấu trúc hóa chứ không phải ngẫu nhiên Kết vị học cũng dựa trên bốn định đề: (1) Tất cả các hành vi có mục đích, trong đó có cả ngôn ngữ được chia thành các đơn vị (2) Các đơn vị xảy ra trong từng ngữ cảnh (3) Các đơn vị này được sắp xếp theo tôn ti (4) Bất kỳ yếu tố nào đều có thể được nhìn nhận từ những quan điểm khác nhau Như vậy, kết vị học chính là nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ, dựa trên hành vi có mục đích của con người.
Trong đó, ngôn ngữ được chia thành các đơn vị và một đơn vị có thể có các hình thức vật lý khác nhau. Nó có thể được phân biệt với các đơn vị khác bởi các tính năng đặc biệt của nó và mối quan hệ của nó với các đơn vị khác trong một lớp, một chuỗi nối tiếp hoặc hệ thống. Ngoài ra, các đơn vị này xảy ra trong từng ngữ cảnh và được sắp xếp theo tôn ti. Khái niệm tôn ti (hierarchy) là cơ sở của lý thuyết kết vị học.
Dẫn theo [14: 113], tôn ti có nghĩa là mối quan hệ bộ phận- toàn bộ, trong đó các đơn vị nhỏ nhất diễn ra với tư cách là các bộ phận của những cái lớn hơn. Ngôn ngữ được xem như là có một cấu trúc ba môđun: âm vị học, ngữ pháp học và sự quy chiếu. Sự quy chiếu bao gồm ngữ dụng và nhiều lý thuyết hành động ngôn từ, trong khi ngữ nghĩa học được tìm thấy những nét nghĩa trong âm vị học và ngữ pháp học và trong các bình diện khác nhau của sự quy chiếu. Các phương thức và cấp độ của chúng phối hợp chặt chẽ với nhau bởi vì các đơn vị ở mỗi cấp độ, hoặc có thể được bao gồm các đơn vị nhỏ hơn cùng cấp độ ấy, hoặc các đơn vị từ cấp độ khác và chúng có thể gia nhập các đơn vị lớn hơn của cùng một cấp độ, hoặc các đơn vị của cấp độ khác.
Các cấp độ biểu nghĩa cấu trúc quan trọng của tôn ti ngữ pháp bao gồm hình vị (căn tố), tổ hợp hình vị (thân từ), từ, đoản ngữ, cú, câu, đoạn văn, diễn ngôn độc loại, trao đáp đối thoại, và hội thoại đối thoại. Kết vị học đôi khi được gọi là ngữ pháp điền vào ô [14: 113]. Theo đặc trưng về kết vị đã đề cập ở trên thì mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vị ngữ, trung tâm (head), bổ ngữ (modifier) mà các đơn vị thuộc các lớp của nó (danh từ, danh ngữ, động từ, đoản ngữ vị từ, tính từ) có khả năng thực hiện. Cả ô và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thể hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thể được chuyển hóa từ cái kia.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chẳng hạn như trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) là một danh từ. Tuy nhiên, tùy vị trí nó xuất hiện sẽ thể hiện chức năng cụ thể. Như thế, “student” là bổ ngữ trong cụm danh từ “the student employees”, nhưng là chủ ngữ trong “the student went to bed early”. Thay vì chuẩn bị hai nhận định độc lập về một câu, một là chia câu ra thành các đơn vị như đoản ngữ danh từ và đoản ngữ vị từ và thứ hai là phân chia chức năng ngữ pháp như chủ ngữ và vị tố cho những đơn vị này, kết vị học muốn phân tích thành một chuỗi các kết vị, mỗi một kết vị đồng thời cung cấp thông tin về chức năng của một đơn vị trong một cấu trúc lớn hơn và về các lớp có thể thực hiện chức năng này.
[14: 114] Waterhouse với công trình “The history and development of tagmemics” [1974] đã có cuộc khảo sát toàn diện ngôn ngữ để phân tích kết vị học. Trong khi Longacre tiếp tục sử dụng một kết vị với hai đặc trưng thì Pike thông qua một quan điểm bốn đặc trưng của kết vị trong các tác phẩm sau này của ông. Ông thêm vào ô (slot) và lớp (class) các đặc trưng về vai (role) và liên kết (cohesion). Liên kết ở đây là khả năng kết hợp ngữ pháp, những trường hợp trong đó hình thức hoặc sự xuất hiện của đơn vị ngữ pháp này được ưa thích bởi một đơn vị ngữ pháp khác trong ngôn ngữ.
Nó bao gồm những đặc trưng phù ứng như phù ứng về số trong tiếng Anh và phù ứng về giống trong nhiều ngôn ngữ Roman. Các kết vị là thành tố của các cú pháp vị (syntagmemes), còn được gọi là các mô hình (patterns) hoặc kết cấu (constructions). Một số kết vị là bắt buộc và được đánh dấu +, trong khi các kết vị không bắt buộc được đánh dấu -. Trong ký hiệu bốn tế bào, Tiểu cú nội động từ “The famer walks” sẽ có hai kết vị, kết vị thứ nhất biểu hiện là “the farmer” và kết vị thứ hai thể hiện là “walks”: Theo Jones [1980] thì kết vị có 4 đặc trưng đó là ô, lớp, vai và liên kết.
Như vậy, kết vị “The famer” được phân tích theo đặc trưng như sau: Đặc trưng ô thì kết vị “the famer” thuộc chủ ngữ, lớp: thuộc đoản ngữ danh từ, vai: chỉ người hành động, liên kết: thuộc danh từ chỉ số ít. Số của chủ ngữ “the famer” sẽ chi phối số của vị ngữ. Tương tự như phân tích trên, kết vị “walk” cũng được phân tích theo 4 đặc trưng. Đặc trưng về ô: vị ngữ, lớp: vị từ, vai: nêu nhận định, liên kết: do kết vị “famer” là danh từ chỉ số ít nên kết vị “walk” phụ thuộc vào số của chủ ngữ.
Sự kết hợp hai kết vị tạo thành tiểu cú nội động từ và có thể tổng quát theo mô hình sau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.