CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận và tổng quan I. TỔNG QUAN Trong 50 năm trở lại đây, Việt Nam đã chứng kiến nhiều đợt di dân trên lãnh thổ của mình. Đến nay di cư Việt Nam đang ngày càng có xu hướng gia tăng hơn trước và đang là một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của Chính phủ cũng như của các tổ chức trong nước và quốc tế. Các chính sách phân bố lại dân cư từ giữa những năm 70 đều cho thấy di cư ở Việt Nam nói chung xuất phát từ các khu vực đông dân thuộc đồng bằng sông Hồng, khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Nguyên nhân ban đầu của hiện tượng di cư xuất phát từ những vấn đề sau: Một là: Tình trạng đô thị hoá đang diễn ra tại các khu vực nông thôn khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp1. Hai là: Năng suất sản xuất nông nghiệp thấp dẫn đến thu nhập của người nông dân thấp2. Ba là: Thời gian nông nhàn nhiều3. Bốn là: Khoảng cách chênh lệch về mức sống, thu nhập, cơ hội việc làm ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn 4.
Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác như chính sách của nhà nước về quản lý hộ khẩu, các chủ trương và chính sách về di cư. Các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội Việt Nam nhận định rằng, tuy Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng việc làm giàu từ nông nghiệp lại là một bài toán 1 Giai đoạn năm 2000 – 2004, cả nước có 157.000 ha đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng. Ước tính có 13 lao động mất việc làm/1 ha đất nông nghiệp (www.asp?code=2205) 2 Bình quân 1 lao động nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22.7% so với dịch vụ và 16.3% so với công nghiệp (2004). 1 ha đất nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22.5 triệu đồng (2005) (www.asp?code=2205) 3 Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động ở khu vực nông thôn là 80.asp?code=2205) 4 Chênh lệch về thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn năm 2006 là 2.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2005, thì cả nước có khoảng hơn 1,5 triệu người di chuyển nơi cư trú (Điều tra biến động về dân số và KHHGĐ năm 2005 _ Tổng cục Thống Kê). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó cho người nông dân. Những năm gần đây, tỷ trọng dân số thành thị ngày một tăng và đạt 27% vào năm 2005. Nhà nước ta dự kiến phấn đấu để tỷ trọng dân số thành thị đạt 40% vào năm 2020; bởi vậy, thoát ly khỏi ruộng đồng đi tìm kế sinh nhai ở nhiều đô thị, vùng miền khác là hiện tượng không mới mẻ đối với nông thôn Việt Nam5.
Điều này có nghĩa là sẽ có luồng di cư vào các đô thị: tỷ suất nhập cư đến các vùng Đồng bằng sông Hồng là 2,5‰, Đông Nam Bộ là 13,5‰ và Đồng bằng sông Cửu Long là 1,1‰6. Một số liệu điều tra mới nhất năm 2006 cho thấy trong tống số 486.500 người di cư giai đoạn 5 năm trước cuộc điều tra, số người đến khu vực thành thị chiếm 57%, tiếp đến là luồng di cư nông thôn - nông thôn (30%). 7 Dưới tác động của toàn cầu hóa, những khác biệt mức sống, chênh lệch trong thu nhập, cơ hội việc làm, sức ép sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội. giữa các khu vực, vùng miền đã trở thành những nguyên nhân cơ bản tạo nên các dòng di cư hiện nay.
So với di dân đến nông thôn, di chuyển dân số ra thành thị đa dạng hơn về thể loại. Mức tăng trưởng nhanh và đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong những năm qua đã thu hút khá hiệu quả lực lượng lao động nhập cư. Với những cải cách theo cơ chế thị trường, Hà Nội cũng đã trở thành một trong nhiều tâm điểm của sự di cư. Nhiều cuộc điều tra đã chỉ ra rằng lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội tìm việc làm trong một vài năm gần đây có xu hướng ngày càng gia tăng.
Hà Nội mỗi năm lại có thêm 22.000 người di chuyển từ các tỉnh khác tới và phần nhiều là vào khu vực nội thành (TCTK, 2001). Theo điều tra của Công an thành phố Hà Nội, số lượng lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội trong năm 2003 là 77.001 người, riêng 6 tháng đầu năm 2004 là 32. Hầu hết người di cư tự do tại Hà Nội là từ các vùng nông thôn, trong số đó đa phần di cư theo mùa vụ và di cư tạm thời, chiếm 78.5% số người di cư tự do vào Hà Nội. Người di cư vào Hà Nội chủ yếu là từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng, chiếm 69% (phần nhiều là từ Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc 5 Nguồn: “Di dân từ nông thôn vào đô thị - Hiện trạng và thách thức cho phát triển đô thị”, Đồng Bá Hướng _ Vụ trưởng vụ thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê.vn/print_preview.asp?Object=4&news_ID1833323 ) 6 Theo số liệu điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2006 của Tổng cục thống kê.
7 Nguồn: “Di cư và giảm nghèo ở nông thôn: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách“, PSG, TS Đặng Nguyên Anh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.), tiếp đến là các tỉnh miến núi trung du phía Bắc (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Thái Nguyên) và Bắc trung bộ (chủ yếu là Thanh Hoá) 8. Mặc dù đã có một số cuộc điều tra về dân di cư được thực hiện nhưng chưa có cuộc điều tra nào thực sự gắn vấn đề di cư với các điều kiện kinh tế và xã hội mà người di cư nước ta đang phải đối mặt. Ở nước ta, cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành vào năm 1994, thuộc loại điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ. Đến năm 2004, Tổng cục Thống kê quyết định tiến hành điều tra di cư.
Mục tiêu chính của cuộc điều tra di cư Việt Nam, 2004 là bổ sung sự thiếu hiểu biết hiện nay về quyết định và kết quả của di cư. Như vậy, cho đến thời điểm này nhiều thông tin có liên quan tới các điều kiện kinh tế, xã hội của người di cư đến Hà Nội chưa được đưa ra và cũng chưa có những nhận định chuyên biệt về dân di cư công giáo. Tính đến thời điểm năm 2004, đã có nhiều nghiên cứu về đối tượng di cư được công bố như : Tống Văn Đường, 1995; Doãn Mậu Diệp và các tác giả, 1996; Đỗ Văn Hoà, 1998; Vũ Thị Hồng và các tác giả, 2003 ., những nghiên cứu này đã chỉ ra nguyên nhân ban đầu của di cư, các đặc điểm đặc trưng cơ bản của di cư, việc làm và thu nhập của dân di cư nói chung v. Trong nghiên cứu về “Di cư tự do đến Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” của TS.
Hoàng Văn Chức, 2003 có đề cập đến tính hình di cư của người lao động trong những năm 1980 – 1990. Chỉ ra những nguyên nhân của di cư xuất phát từ sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Nghiên cứu cũng đặc biệt nhấn mạnh đến thực trạng di dân tự do đến Hà nội và những ảnh hưởng của di dân tự do đến môi trường, đến cơ sở hạ tầng của thành phố, đến việc quản lý nhân khẩu, các tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội v. - những vấn đề đang ngày càng trở nên nan giải hơn khi dòng người đổ xô về đô thị ngày càng nhiều.
Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ có bài viết “Chiều cạnh giới của di cư lao động thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của PGS.TS Đặng Nguyên Anh, 2005 xem xét đặc trưng của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân lao động nữ 8 Nguồn: “Di cư tự do đến Hà Nội - Thực trạng và giải pháp”, TS. Hoàng Văn Chức, Hà Nội 2004 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra đô thị và đến các khu công nghiệp, chế xuất. Bài viết cho thấy sự gia tăng về quy mô, tỷ trọng cũng như các loại hình di cư nữ, đặc biệt đến khu vực thành thị, các khu công nghiệp là một thực tế khách quan phản ánh quy luật phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên cạnh đó là những bất cập, những khó khăn trở ngại mà phụ nữ phải đối diện trong quá trình di cư khi mà các chính sách, môi trường xã hội và pháp lý chưa tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo quyền lợi cho họ.
Còn khi xem xét người di cư dưới khía cạnh tiếp cận các dịch vụ xã hội thì sao? Thực tế, nhiều nghiên cứu về dân số cũng đã tìm hiểu về khả năng tiếp cận các dịch vụ nói chung của người di cư, chẳng hạn như: Chuyên đề nghiên cứu ”Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam” của Tổng cục thống kê thực hiện năm 2006. Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác động của di cư với bản thân những người di cư. Chất lượng cuộc sống của người di cư được đề cập trong báo cáo này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công của di cư (cả khách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và an ninh nơi chuyển đến. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả di cư bao gồm từ các cơ hội kinh tế, tính sẵn sàng về nhà ở và các điều lệ, quy định của địa phương nơi đến, loại di cư, tức là di cư tạm thời, chuyển đến nơi mới rồi lại quay về, tạm trú dài hạn hoặc kết hợp của các hình thức trên, các hỗ trợ mà người di cư có thể có được thông qua hoặc hệ thống phúc lợi xã hội chung hoặc mạng lưới xã hội riêng của người di cư.
Chuyên khảo ”Di cư trong nước và mối liên hệ với các điều kiện sống” do Tổng cục thống kê thực hiện cũng trong năm 2006 nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách và kế hoạch hoá phát triển các lĩnh vực khác nhau có tính đến sự khác biệt giữa các nhóm di cư. Mục tiêu chính của chuyên khảo này là miêu tả mối quan hệ giữa di cư và các sự kiện cuộc sống. Các sự kiện được phân tích xem xét bao gồm: việc làm, thay đổi nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, học vấn, sinh đẻ. Tập trung phân tích các mô hình di cư theo chu trình cuộc sống, gắn với các nguyên nhân và hậu quả chính của di cư.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.