đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo trong hệ thống tổng thể các chiến lược phát triển của đất nước. Ngày 29-11-1997, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 23-CT/TW về lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo. Trong đó, Bộ Chính trị đã yêu cầu các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng uỷ trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo tốt những nội dung như: giải quyết một số vấn đề về chính sách ruộng đất, phát triển thương nghiệp quốc doanh; phát triển truyền thống ở nông thôn, miễn giảm học phí. Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo ra đời là một nhân tố mới trong quá trình quản lý của Nhà nước, là điểm đột phá trong nhận thức về nghèo đói, đồng thời cũng đánh dấu một bước trưởng thành của toàn xã hội trong nhận thức và hành động để xử lý nạn đói, nghèo ở tầm chiến lược trên phạm vi toàn quốc.
Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo là kết quả của một quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn xóa đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của toàn xã hội, là một trong những cơ sở chủ yếu để các cấp, các ngành, các địa phương đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và chương trình hành động xóa đói giảm nghèo trên từng địa bàn và trong từng lĩnh vực hoạt động. Khái niệm chính sách xóa đói, giảm nghèo Khái niệm chính sách: Đến nay đã có nhiều định nghĩa về chính sách. Chẳng hạn như: Trong Understanding public policy, Thomas R. Dye, cho rằng “Chính sách là điều mà một chính phủ chọn để làm hoặc không làm” [22, tr17]; trong 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi đó, tác giả Guy Peters lại cho rằng:“Chính sách là toàn bộ hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân” [22, tr17].
Trong số các quan niệm về chính sách, tác giả James E. Anderson đưa ra một định nghĩa cụ thể và sáng tỏ hơn: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm” [22, tr17]. Trong luận văn này tác giả tiếp cận khái niệm “Chính sách” trên phương diện tiếp cận chính trị học: Chính sách là phương tiện của một chủ thể quyền lực đưa ra nhằm theo đuổi, giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm theo một hướng tích cực nào đó. Khái niệm chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Chính sách xóa đói giảm nghèo là hệ thống quan điểm, giải pháp của Nhà nước và các địa phương nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo; thu hẹp khoảng cách về chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư, đặc biệt là ở những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội.
Nâng cao hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo Về mặt lý thuyết, mỗi chính sách xóa đói, giảm nghèo đều nhằm cụ thể những mục tiêu riêng, hỗ trợ một khu vực riêng, một đối tượng hay nhóm nhỏ đối tượng nào đó, tuy nhiên, đều có những điểm chung là giải quyết nguyên nhân dẫn đến gia tăng đói nghèo, cải thiện môi trường, trợ giúp dân thoát nghèo, từ đó giảm tỷ lệ nghèo đói. Để đánh giá hiệu quả chính sách giảm nghèo cần căn cứ vào các tiêu chí sau: 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, tính hiệu lực của chính sách xóa đói, giàm nghèo: phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách giảm nghèo trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của Nhà nước. Tính hiệu lực của chính sách giảm nghèo thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu (tuyệt đối và tương đối) đề ra như giảm số hộ đói nghèo, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo. Thứ hai, tính hiệu quả của chính sách xóa đói, giảm nghèo phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách xóa đói, giảm nghèo đưa lại với chi phí đã bỏ ra.
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách giảm nghèo. Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác giảm nghèo. Thứ ba, tính công bằng của chính sách xóa đói, giảm nghèo thể hiện ở chỗ thông qua chính sách, Nhà nước thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho các đối tượng dễ bị tổn thương, như người nghèo, người già, trẻ em và người tàn tật để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm xã hội. Tính công bằng của chính sách giảm nghèo còn thể hiện ở sự phân bổ hợp lý các chi phí và lợi ích, các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạch định, thực thi chính sách và các nhóm đối tượng liên quan đến chính sách xóa đói, giảm nghèo.
Thứ tư, chú trọng đánh giá tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo đến các đối tượng hưởng lợi từ chính sách. Tác động của chính sách giảm nghèo phản ánh kết quả đầu ra hay kết quả cuối cùng của chính sách. Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo. Song việc đánh giá tác động của chính sách cũng là khâu khó khăn nhất trong đánh giá chính sách, bởi lẽ các tác động này đôi khi rất khó đo lường.
Cụ thể: để đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo đã tác động đến đối tượng người đói nghèo như thế nào, cần xem xét việc người nghèo được hưởng những lợi 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ích gì từ chính sách của Chính phủ và các lợi ích đó đã giúp họ thoát đói nghèo đến đâu. Việc đánh giá tác động này không thể căn cứ vào những ý kiến chủ quan của các cấp chính quyền, mà phải được đo lường bằng mức độ hài lòng của người dân về các lợi ích được hưởng. Cần tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến đánh giá của người dân, đối tượng hưởng lợi từ chính sách giảm nghèo. Thứ năm, mức độ giải quyết chính sách xóa đói, giảm nghèo.
Mỗi chính sách giảm nghèo được xây dựng khởi nguồn từ việc xác định vấn đề chính sách – đó là thực trạng xóa đói giảm nghèo hay sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng quyền lực công để giải quyết nhằm đạt tới mục tiêu hiệu quả, ổn định và công bằng xã hội. Nhu cầu giải quyết vấn đề của chính sách xóa đói giảm nghèo thường thể hiện ở các mục tiêu của chính sách. Tuy nhiên, đôi khi mục tiêu được đề ra quá rộng, chung chung, không rõ ràng, khi đó dù các chính sách có được thực thi trên thực tế theo mục tiêu đề ra, thì cũng rất khó xác định vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu. Hơn nữa, vấn đề chính sách thường có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội khác nhau.
Do đó, mức độ giải quyết vấn đề chính sách có thể đo lường được bằng một loạt tiêu chí liên quan đến các khía cạnh kinh tế – xã hội này, cụ thể: để đánh giá mức độ giải quyết vấn đề đói, nghèo, sẽ không thể chỉ đưa ra chỉ tiêu nghèo đã giảm xuống bao nhiêu phần trăm, mà còn phải xem xét các khía cạnh khác, như người nghèo được tiếp cận như thế nào đến các dịch vụ công thiết yếu, như y tế, giáo dục, nước sạch; việc tạo điều kiện cho người nghèo trong thực hiện các quyền lợi của công dân… 1. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về xóa đói giảm nghèo Qua từng thời kỳ khác nhau, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về xóa đói giảm nghèo đều được cụ thể hóa trong Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định xóa đói giảm 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghèo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Đây là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa là việc làm thường xuyên, liên tục của các cấp, các ngành.
Xóa đói giảm nghèo là chương trình độc lập có mục tiêu và đối tượng riêng, mọi giải pháp, mọi hoạt động đều phải cụ thể và phù hợp mới mục tiêu đề ra. Xóa đói giảm nghèo phải được thực hiện theo phương châm xã hội hóa cao: Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đề ra các nhiệm vụ, mục tiêu, cơ chế, chính sách nhằm phát huy khả năng và trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội; các cộng đồng, địa phương có vai trò chủ động xuyên suốt trong xóa đói giảm nghèo; người nghèo, hộ nghèo phải phát huy tính tự chủ, tự vươn lên thoát nghèo. Cần tiến hành đồng bộ các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo theo phương châm cuốn chiếu, ưu tiên đầu tư vào các vùng trọng điểm có tỷ lệ đói nghèo cao như vùng sâu, vùng cao, vùng biên giới, hải đảo, vùng căn cứ địa cách mạng. Có thời kỳ, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm là sự nghiệp của toàn dân, là một trong những chương trình trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội, là chính sách xã hội cơ bản, là những ưu tiên trong toàn bộ các chính sách về kinh tế và xã hội.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện xóa đói giảm nghèo bền vững, gắn xóa đói giảm nghèo với phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ, dịch vụ, ngành nghề; kết hợp và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và an sinh xã hội với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở xác định rõ các vùng trọng điểm, các hoạt động ưu tiên nhằm tập trung nguồn lực đầu tư có hiệu quả. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế. Kết hợp tăng trưởng việc làm với nâng cao chất lượng việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể, xã hội và cá nhân tham gia đầu tư, tạo việc làm và phát triển thị trường lao động; đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia; tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm.