Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lịch sử vấn đề 1.1 Mạch lạc Dù chưa có một lịch sử nghiên cứu lâu đời (mạch lạc mới bắt đầu được chú trọng nghiên cứu từ nửa sau thế kỉ XX), nhưng việc nghiên cứu mạch lạc đã có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Ở đây, chúng tôi tạm chia nghiên cứu mạch lạc là hai giai đoạn: giai đoạn 1 – giai đoạn “mạch lạc” trong mối quan hệ với “liên kết”, và giai đoạn 2 – “mạch lạc” trong phân tích diễn ngôn.1 Giai đoạn 1 Trong giai đoạn này có những quan điểm đáng chú ý sau: - Haliday và Hasan Hai tác giả này có công trình “Cohesion in English” xuất bản lần đầu năm 1976. Dù trọng tâm của nghiên cứu này không phải là mạch lạc nhưng chúng ta có thể thấy phần nào quan điểm của hai tác giả về mạch lạc. Theo hai tác giả thì mạch lạc là “tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản, và làm phương tiện phát hiện liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về nội dung giữa các mảnh đoạn cụ thể.
Mạch lạc không nêu văn bản thông báo cái gì; mà nêu văn bản được tổ chức thành chỉnh thể ngữ nghĩa như thế nào”. Từ đó, hai tác giả triển khai khái niệm mạch lạc cụ thể hơn (trong mối quan hệ của mạch lạc với liên kết và ngữ vực): “Khái niệm liên kết, do đó có thể được bổ sung hữu ích bằng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ vực (register), vì hai khái niệm này phải cùng nhau thì việc xác định một văn bản mới hữu hiệu. Một văn bản là một khúc đoạn của diễn ngôn có nối kết trong cả hai cách nhìn đó; nó là mạch lạc, đối với ngữ cảnh tình huống; và do đó nó nhất quán trong ngữ vực; và nó có mạch lạc đối với chính nó, và do đó nó có liên kết”. Từ quan điểm trên, chúng tôi thấy rằng, với hai tác giả này, thì mạch lạc vừa có phân biệt với liên kết, lại vừa như thuộc về liên kết.
Mạch lạc cùng với liên kết giúp cho một khúc đoạn lời nói trở thành một văn bản. Hay nói một cách đơn giản, mạch lạc và liên kết là hai điều kiện tạo thành chất văn bản (texture); cái gì tạo thành chất văn bản mà không phải liên kết (bằng các phương tiện ngôn ngữ giữa các câu) thì là mạch lạc. Nhưng theo Galperin, tuy hai tác giả này có ý đồ hình thức hóa các phương tiện mạch lạc, nhưng ”trong công trình này vẫn có nhiều điều được đề xuất ở bình diện ngữ pháp chứ không phải bình diện văn bản”. Nhận xét này có hơi nặng nề, nhưng có phần đúng vì hai tác giả thường quá chú trọng vào việc phân tích đại từ, mối quan hệ giữa các vế câu trong khi đưa ra ví dụ về mạch lạc.
- Galperin Galperin (1978) trong công trình “Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học” có một chương bàn riêng về “Mạch lạc”. Tác giả định nghĩa mạch lạc là ““Mạch lạc là những hình thức liên kết riêng biệt, đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục logic (về mặt thời gian và không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể,…” Tác giả đi sâu vào việc phân tích (một cách triệt để) mạch lạc trong các ví dụ cụ thể (gồm một văn kiện ngoại giao, một bài báo, một vài tác phẩm văn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sau đó, bằng cách tổng kết từ việc phân tích, tác giả đưa ra một loại mạch lạc nào đó. Nhìn chung tác giả lần lượt đưa ra một số loại mạch lạc sau: mạch lạc bằng phương tiện ngữ pháp hình thức, mạch lạc theo phạm vi quan hệ thời gian, mạch lạc giãn cách, mạch lạc liên tưởng, mạch lạc phương tiện logic, mạch lạc liên tưởng, mạch lạc bố cục – kết cấu, mạch lạc tu từ, mạch lạc tạo tiết điệu.
Chúng tôi thấy rằng, trong một loạt khái niệm tác giả đưa ra, không có một sự thống nhất chung, hay là một tiêu chí chung nào đó để đánh giá mạch lạc. Chính vì thế mà tác giả cũng tự thấy rằng “Chương “Mạch lạc” đã thực hiện ý đồ cụ thể hoá “ở chừng mực nào có thể được” - Trần Ngọc Thêm / Đỗ Hữu Châu Trần Ngọc Thêm trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (1985) có đưa ra một khái niệm “liên kết nội dung” nhưng không có một định nghĩa rõ ràng. Ông chỉ ra rằng “liên kết nội dung” rộng hơn “liên kết ngữ nghĩa” vì nó nhấn mạnh nhiều hơn đến các nhân tố ngoài ngôn ngữ. Đỗ Hữu Châu cũng đề cập đến “liên kết nội dung” và cũng chia thành “liên kết chủ đề” và “liên kết logic”.
Trong đó ông định nghĩa liên kết chủ đề xảy ra khi “các câu cùng ứng với một vật quy chiếu”, còn liên kết logic là “sự tổ chức sắp xếp ngữ nghĩa sao cho phù hợp với thực tế khách quan, với nhận thức của con người” (nhưng thế nào là phù hợp với thực tế khách quan, thế nào là phù hợp với nhận thức con người thì không thấy tác giả làm rõ). Nhìn chung, thuật ngữ “liên kết nội dung” của hai tác giả này rất gần với “mạch lạc”. Nhưng khi triển khai sâu hơn khái niệm này, cả hai tác giả đều dựa hoàn toàn vào cái nền là “liên kết”. Theo chúng tôi, mạch lạc là một khái niệm rộng hơn liên kết rất nhiều, vì thế nghiên cứu của hai tác giả này về “liên kết nội dung” còn nhiều hạn hẹp, nếu so với “mạch lạc”.
- Diệp Quang Ban 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” (2009) định nghĩa về mạch lạc như sau “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản, nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết giữa câu với câu”. Trong tác phẩm này, tác giả đã tương đối thành công trong việc chỉ ra các biểu hiện cụ thể của mạch lạc cũng như phạm vi tác động của các biểu hiện đó với văn bản. Tám biểu hiện mà tác giả nêu ra là (xin trình bày lại dưới dạng tóm tắt) (1) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong câu (2) Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu (3) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau (4) Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu (hay các mệnh đề) (5) Mạch lạc theo kiểu quan hệ suy kết (6) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu (7) Mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói (8) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận Trong tám biểu hiện trên, dễ thấy biểu hiện (1) không thuộc về các biểu hiện của mạch văn bản (mà chỉ là mạch lạc của câu), biểu hiện (8) là một phần của biểu hiện (4) (do Diệp Quang Ban có sự phân chia mạng mạch và mạch lạc, nên phải tách ra làm hai biểu hiện như vậy). Các biểu hiện mạch lạc văn bản của Diệp Quang dù tương đối hoàn thiện, nhưng vẫn có thể bổ sung thêm, cũng như hệ thống hoá các biểu hiện này lại.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giai đoạn 2 Các nhà khoa học ngày càng nhận thấy mạch lạc là một vấn đề rất khác so với liên kết, và nó còn liên quan đến nhiều vấn đề ngôn ngữ học và ngoài ngôn ngữ học khác. Vì thế, cùng với sự phát triển của phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học nhân học, việc nghiên cứu mạch lạc có nhiều hướng mới. Đáng chú ý là ba hướng tiếp cận sau - Giải thuật chức năng giao tiếp Các nhà ngôn ngữ thấy rằng việc trả lời câu hỏi “Tại sao các phát ngôn này gắn kết với nhau?” nếu chỉ dựa vào các dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ thì sẽ gặp nhiều khó khăn.
Ví dụ như: A: Mấy giờ rồi? B: Vâng, người đưa thư vừa đến rồi. (1) Rõ ràng là không có dấu hiệu liên kết hình thức giữa 2 câu trên, nhưng có thể hiểu được hai câu đó có mối liên hệ với nhau. Đặc biệt từ sau khi lí thuyết hành động ngôn từ ra đời, các nhà ngôn ngữ học hướng việc giải thích mạch lạc vào “các hành động được thực hiện bởi các phát ngôn đấy” (Labov) thay vì bản thân các phát ngôn. Các nhà khoa học theo hướng này thường phân tích các đoạn hội thoại như trên, nhằm chỉ rằng các cấu trúc tương tác xã hội phi ngôn ngữ đã làm nên sự mạch lạc trong diễn ngôn.
Điển hình của hướng tiếp cận này là quan điểm của Green (1980) với lí thuyết cộng tác. Ông cho rằng “Một văn bản mạch lạc là một cái gì mà tại đó người giải quyết có thể tái tạo không mấy khó khăn cái dàn ý của người nói một cách chắc chắn là hợp lí, [tái tạo] bằng cách suy đoán những mối quan hệ giữa các câu và những mối quan hệ cá thể của chúng với các mục đích khác nhau trong dàn ý đã được suy đoán ra đó so với toàn bộ những điều đã nhận thức được có trong tay” 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cụ thể hơn, ông chỉ ra rằng “… đối với vấn đề cái gì nối kết các câu riêng lẻ với nhau trong một văn bản đích thực, chứ không văn bản giả mạo, là cách tiếp cận căn cứ vào việc nhận thức được rằng chuỗi câu đang bàn được sản xuất ra bởi một cá nhân phù hợp với nguyên tắc cộng tác, và như hệ quả, mỗi câu đều có dụng ý nói ra một cái gì cần thiết, đúng và thích đáng với việc thực hiện một mục tiêu nào đó, mà đối với nó (cái được cùng tin) người tạo ra văn bản và người tiếp nhận đã được định trước cùng đều quan tâm.” (dẫn theo Diệp Quang Ban) Green bằng nhiều ví dụ, chỉ ra rằng, mạch lạc văn bản không phải vấn đề đặc trưng của văn bản, chỉ nằm gọn trong văn bản, mà còn ở người tiếp nhận văn bản, những người mà sẽ bằng mọi cách suy đoán để tạo ra một dàn ý có thể chấp nhận được cho văn bản. Như thế, giữa người tiếp nhận và người tạo lập có một “sự cộng tác” để lập “dàn ý” cho văn bản, đảm bảo mục đích giao tiếp.