phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn gồm hai chương: Chƣơng I: Tác giả Bùi Huy Tùng và Tác phẩm Tứ lễ lược tập. Chƣơng II: Khảo sát nội dung Gia lễ trong Tứ lễ lược tập 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng I: TÁC GIẢ BÙI HUY TÙNG VÀ TÁC PHẨM TỨ LỄ LƯỢC TẬP 1. Tác giả Bùi Huy Tùng Bùi Huy Tùng 裴輝松 tự là Tú Lĩnh 秀領, hiệu là Như Trai 如齋 (1794 – 1862). Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay chưa có cuốn sách nào ghi chép tường tận về thân thế và sự nghiệp của Bùi Huy Tùng.
Sách Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của PGS. TS Trịnh Khắc Mạnh chỉ đề cập tới ông với vài dòng vắn tắt, ở mục 650 tác giả viết: “Như Trai: Tên hiệu của Bùi Tú Lĩnh (? - ?), người làng Phất Lộc thành Hà Nội (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội). Về thân thế và sự nghiệp của Bùi Tú Lĩnh hiện chưa rõ, được biết ông sống vào thời vua Nguyễn Thánh Tổ”2. Ở đây, tác giả Trịnh Khắc Mạnh có sự nhầm lẫn: Tú Lĩnh là tên tự, chứ không phải tên của Bùi Huy Tùng.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tìm được bài viết khá chi tiết về thân thế và sự nghiệp của Bùi Huy Tùng của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc. Bài viết có nhan đề “Bùi Huy Tùng, nhà văn hóa đáng trọng của Hà Nội”, được đăng tải trên Website: http://hobuivietnam. Dưới đây xin được trích lục một số phần trong bài viết như sau: “Ông là một nhà từ thiện nổi tiếng của Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX, quê ở ngõ Phất Lộc, sinh năm Giáp Dần - 1794, mất năm Nhâm Tuất – 1862. Cụ thuộc thế hệ thứ 11, tính từ thủy tổ ở Thái Bình.
Đến thế hệ thứ 14 có một nhân vật nổi tiếng về văn hoá, đặc biệt là về lễ nghi và công việc từ thiện. Đó là Bùi Huy Tùng 裴輝松 (1794 – 1862). Ông hiệu là Như Trai 如齋, tự là Tú Lĩnh 秀領. Ông hiếu học, quảng bác song không thành đạt về khoa cử.
Dường như ở một kỳ thi Hương, ông chỉ vào đến Tam trường. Được bạn bè tiến cử, ông có vào Huế làm một chức vụ về văn thư ở phủ 2 Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2007, Tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Kiến An quận vương (con trai của Gia Long). Song chỉ một thời gian ngắn, ông cáo quan, về lại ngõ Phất Lộc mở trường dạy học.
Được bà vợ tần tảo đảm đang buôn bán giỏi nên gia tư cũng khá giả. Song không như nhiều nhà có của mà keo kiệt, hai ông bà luôn làm những việc từ thiện công đức. Đặc biệt đối với các di tích lịch sử thì ông bà có đóng góp quan trọng. Xin nêu hai di tích lớn.
Thứ nhất, là Văn chỉ huyện Thọ Xương. Nguyên ngày trước trong việc thờ phụng các vị sáng lập ra Nho giáo thì ở cấp tỉnh có văn miếu tức tòa nhà xây dựng quy mô; còn ở cấp phủ, huyện và ở làng thì có văn chỉ, tức là một khuôn viên (phần lớn ở giữa đồng) gồm một cái nền lát gạch lộ thiên, bên trên xây những bệ gạch, đặt bát hương, mỗi năm “Xuân Thu nhị kỳ”, thường vào ngày Đinh của tháng Hai và tháng Tám, hội Tư văn hàng phủ, hàng huyện (hoặc hàng xã) tới làm lễ cúng Khổng Tử và các vị khoa bảng của địa phương. Riêng huyện Thọ Xương tới đời Nguyễn vẫn là huyện quan trọng của tỉnh Hà Nội nên các nhà nho đã thay thế văn chỉ lộ thiên bằng những tòa nhà hẳn hoi, không to bằng văn miếu song cũng đủ hậu cung, đại bái, tả vu, hữu vu. vì ngoài Khổng Tử, Tứ phối, nơi đây còn thờ các vị tiên hiền, tức các nhà khoa bảng người gốc Thọ Xương (Thọ Xương tiên hiền từ vũ - đền thờ tiên hiền huyện Thọ Xương).
Nay Văn chỉ Thọ Xương đang xuống cấp, ở sâu trong ngõ Văn Chỉ, chỗ số nhà 222 phố Bạch Mai rẽ vào. Tuy vậy, ở đó vẫn còn một tấm bia ghi lại sự việc xây dựng tòa đền này dựng vào niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (Mậu Tuất, 1838). Tác giả bài văn bia là nhà văn hóa lớn đương thời - Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, người đời quen gọi là ông Nghè Đông Tác (vì quê ở làng Đông Tác tức phường Trung Tự ngày nay). Tên bia là “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi”.
Trong bài văn bia tác giả thuật lại quá trình tạo dựng văn chỉ, trong đó nêu cao công đức của ông Bùi Huy Tùng: “Xưa kia đã có đền thờ, nhưng trải qua cơn biến loạn (. Năm Nhâm Thìn - 1832, bọn thân sĩ chúng ta cảm kích nhớ tới đạo đức phẩm chất các vị tiên hiền, nên bàn cách khiến cho được lưu truyền mãi, tham khảo quy chế phụng thờ, ghi thành ước lệ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua năm Bính Thân - 1836, các thân sĩ đem ý định đó bàn với vị Tiến sĩ khoa Bính Tuất (năm 1826), người thôn Tự Tháp là Vũ Hoán Phủ (Vũ Tông Phan) rồi chọn nơi làm đền thờ ở phường Hồng Mai, phía Nam huyện. Đền chính xây toà gạch, mặt hướng về phương Đông.
Năm gian bái đường, nhà bên tả và bên hữu đều lợp ngói, cột phía ngoài và tường xung quanh đều xây gạch. Khoảng giữa trồng hoa, lại đặt thêm ruộng tế và ao tất cả 8 mẫu 7 sào 10 thước. Quy chế trăm ngàn năm, chỉ có vài năm mà hoàn thành. Ôi! Việc tốt đẹp của danh giáo được mở ra rồi chăng? Nếu không, sao lại hưng thịnh được như vậy.
Ngay từ ban đầu khi thân sĩ ta đề xướng ra thì ông Bùi Huy Tùng, người Hà Khẩu thuộc bản huyện đã vui lòng xuất của nhà hàng ngàn quan đưa cúng vào đó, lại tự mình trông nom mọi việc từ đầu đến cuối. Thế mới biết rằng những việc rất lớn, rất tốt trong vũ trụ, chỉ sợ không chịu làm thôi. Nếu làm thì không có gì khó. Bởi vì đã hợp lẽ trời thì thần minh không hề ngăn cản việc hoàn thành”3.
Không rõ giá trị của hàng ngàn quan tiền mà ông Tú Lĩnh đã bỏ ra để góp phần tu tạo di tích so với thời đó là bao nhiêu, chỉ biết bậc đại nho Nguyễn Văn Lý đã đưa tên tuổi và ca ngợi công đức của ông vào trong bia thì hẳn là rất lớn, không chỉ về vật chất mà còn cả về tinh thần. Thứ hai, ông Tú Lĩnh còn đứng ra cáng đáng việc tu bổ chính ngôi đình Phất Lộc, nay là số nhà 46A trong ngõ. Đền đó do ba giáp Nguyên Thượng, Nguyên Trung, Nguyên Hạ của chính dân Phất Lộc lập ra, nên gọi là đền Tam Nguyên. Đền có từ giữa thế kỷ XVIII, đến giữa thế kỷ XIX thì hư hỏng.
Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng đã đứng ra làm lại ngôi đền. Công việc xong xuôi cả ba giáp lập bia nhờ Tiến sĩ Vũ Tông Phan viết cho bài văn bia”Trùng tân Tam Nguyên từ bi ký” trong đó có đoạn: “ (…) có người Giáp Thượng là Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng và vợ hiền là Cao Thị Tính, vốn dĩ vui làm việc thiện, nghe tỏ sự tình, nhân đó cũng có lời bày tỏ phân minh; tiếp theo lời lại vui vẻ xuất tiền riêng ra xây lại mới mẻ, to lớn hơn xưa. Công việc thật không lường! Tháng Hai, mùa xuân năm Mậu 3 Bản dịch của sách Vũ Tông Phan - Tuyển tập thơ văn, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000 (nguyên chú) 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thân (năm 1848) bói quẻ khởi công, đến tháng Mười mùa đông mới xong. Nhà mái khang trang, khí sắc hơn xưa gấp bội, ấy là nhờ có phúc ấm thần linh truyền lại, nhưng ví thử không có người thành thâm, liệu được như vậy chăng? Bèn cho khắc vào bia đã để lưu truyền”4.
Lại một bậc đại nho khác ca ngợi công đức, việc làm từ thiện của Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng. Ngoài ra, Tú Lĩnh còn góp công của tu bổ một số di tích khác như đình Xã Đàn, đình Văn Quán (nay thuộc phường Văn Mỗ, quận Hà Đông), đình Kim Bài (nay thuộc thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Thật là một tấm gương trong sáng vô tư. Cũng phải kể đến một đóng góp đáng kể của ông Bùi Tú Lĩnh với việc nghiên cứu các cửa ô Hà Nội là bài văn bia ông soạn cho đình Thanh Hà, nay là số 10 Ngõ Gạch, có tên là Trùng tu Thanh Hà đình vũ bi ký.
Qua bài văn bia này ta được biết, cửa ô Quan Chưởng đến năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Long (năm 1817) được làm lại, để mở rộng đường cái quan nên xén vào đình làng Thanh Hà, do vậy đình phải chuyển đến chỗ ngày nay (10 Ngõ Gạch), ban đầu bằng tre gỗ lợp lá, năm Nhâm Ngọ - 1822 lợp ngói, năm Canh Tý - 1840 làm mới lại. Ngoài ra, Tú Lĩnh còn biên soạn nhiều sách, tổ chức khắc in. Đó là những ấn phẩm hoặc là trích lục những sách cổ, hoặc là hiệu chỉnh các bản in trước đây hoặc là những bộ sách do ông tự biên. Có thể nêu một số: 1.
Tuyển trích: Âm chất văn (trích các đoạn văn trong các sách cũ khuyên làm việc thiện). Hiệu chỉnh: Ngũ luân ký (khúc ngâm và bài ký về năm đạo luân thường); Khuyết lý hợp toản (kể chuyện về Khổng Tử); Cức vi khuyến giới đoạt mệnh lục hợp biên, gồm: Văn xương Đế quân quá cách và Thái vi tiên quân công quá cách (nói về cách tu dưỡng bản thân theo Văn Xương và Thái Vi). 4 Bản dịch của sách Vũ Tông Phan - Tuyển tập thơ văn, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000 (nguyên chú) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tự biên: Tứ lễ lược tập (tóm lược bốn lễ quan, hôn, tang, tế); Tú Lĩnh tôn ông lục tuần song thọ thi tập (gồm trên 200 bài thơ, 105 câu đối mừng Tú Lĩnh thọ 60 tuổi của bạn bè và của cả chính ông), Thọ Xương huyện triệu tự lệ (Điều lệ thờ tiên hiền ở huyện Thọ Xương).
Tất cả các sách trên, đều được cho “khắc in” ở nhà sách đặt tại Như Nguyệt đường do ông chú là Bùi Huy Đoàn sáng lập, đặt tại Văn chỉ Thọ Xương. Tóm lại, Bùi Huy Tùng đúng là một người Hà Nội (dù gốc Thái Bình) với nghĩa là một người giữ lễ nghi, trọng nhân nghĩa, khoan hòa, chuộng việc thiện tức là ý thức cộng động cao. Vì thế mà các đại nho Hà Nội rất quý trọng.