Chương I: Một số cơ sở lý thuyết Chương II: Tổ chức nội dung của văn bản tin Chương III: Mô hình cấu trúc thông tin của văn bản tin 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. DIỄN NGÔN VÀ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN 1. Diễn ngôn Được Z.Harris sử dụng lần đầu tiên trong một bài báo mang tên “Discourse Analysis – Phân tích diễn ngôn” vào năm 1952, song cho đến nay thựa tế vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về diễn ngôn. Việc xác định “diễn ngôn là gì?” luôn được các nhà nghiên cứu đặt trong mối quan hệ với khái niệm “văn bản” – một khái niệm khá quen thuộc đối với ngôn ngữ học truyền thống.
Harris với việc đưa ra cách hiểu diễn ngôn là văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu bước đầu đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, giúp ngành học này xác định được định hướng phát triển của mình là tập trung vào nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ. Hai tác giả Brown & Yule trong cuốn sách tựa đề “Discourse analysis – phân tích diễn ngôn”, cố gắng phân biệt diễn ngôn với văn bản khi xác định “văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp”. Tuy nhiên, quan điểm này đôi khi không thống nhất bởi sau đó hai tác giả lại khẳng định “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn”. David Nunan cũng là người có khuynh hướng phân biệt rạch ròi hai khái niệm nhưng cách diễn đạt của ông theo hướng cụ thể hơn.
Ông dùng thuật ngữ “văn bản” để chỉ “sự ghi lại (thể hiện) bằng ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp”, sự kiện đó có thể sử dụng ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết giảng) hoặc sử dụng ngôn ngữ viết (một bài thơ, một quyển sách). Còn thuật ngữ “diễn ngôn” dùng để chỉ “một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh”. Ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và lẽ dĩ nhiên cũng tồn tại những quan điểm không thống nhất, thậm chí ở mỗi giai đoạn, quan điểm về mối quan hệ giữa hai khái niệm có sự biến đổi. Theo tác giả Diệp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quang Ban, các khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” đã từng được sử dụng qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết; giai đoạn thứ hai có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; và trong giai đoạn ba, diễn ngôn được hiểu như văn bản ở ý nghĩa thứ nhất [16, tr.
Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt ngữ” (2004) đã bày tỏ quan điểm của mình rằng - “thuật ngữ diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”. Một trong số các tác giả cũng dành nhiều sự quan tâm tới vấn đề này là tác giả Nguyễn Hòa. Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản”. Theo Nguyễn Hòa, “văn bản là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết”, trong khi đó “diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”.
Mặc dù đã chỉ ra được sự khác biệt giữa hai khái niệm, song bản thân tác giả cũng thừa nhận sự phân biệt này trên thực tế chỉ mang tính tương đối tùy theo quan điểm của người nghiên cứu, sẽ được coi là “văn bản” khi được xem xét dưới góc độ hình thức, hoặc được coi là “diễn ngôn” khi xem xét dưới góc độ hành chức. Phân tích diễn ngôn Sự phân biệt giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” tất yếu dẫn đến hệ quả là sự phân biệt giữa hai khái niệm “phân tích diễn ngôn” (discourse analysis) và “phân tích văn bản” (text analysis). Trước tiên, với quan điểm cho rằng “diễn ngôn như một tiến trình”, hai tác giả Brown và Yule khẳng định, nhà phân tích diễn ngôn phải nghiên cứu từng từ, ngữ, và câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn để tìm cho được bằng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chứng về sự nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận (người nghe/người đọc). Bên cạnh đó, các nhà phân tích diễn ngôn cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào và lý do tại sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp của người phát trong một tình huống nào đó, và làm thế nào mà các yêu cầu của người nhận, trong một hoàn cảnh có thể xác định được, ảnh hưởng đến kết cấu diễn ngôn của người phát.
Như vậy, có thể thấy rằng phương hướng nghiên cứu này chủ trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu chính, và vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như là phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa [tr. Có một sự tương đồng tương đối giữa quan điểm của hai tác giả trên với quan điểm của tác giả David Nunan khi ông cũng cho rằng, “phân tích diễn ngôn” liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) – khác với “phân tích văn bản” thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ vốn bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng. David Nunan nhấn mạnh, giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học và tất cả các nhà ngôn ngữ học nói chung, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn, đó là vừa chỉ ra, vừa giải thích mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn.
Như vậy, ở đây tác giả đã căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của nhà phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức (phân tích văn bản) hay phân tích ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm [tr. Trên cơ sở phân tích quan điểm của David Nunan, tác giả Nguyễn Hòa cũng đồng thuận cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản có sự tương đồng như mối quan hệ giữa hai khái niệm diễn ngôn và văn bản bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn riêng biệt mà thực chất chỉ nên xem đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Với định hướng như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn. thuộc về địa hạt phân tích văn bản, trong khi đó các khía cạnh của diễn ngôn sẽ bao gồm mạch lạc, các hành động nói, sử dụng tri thức nền trong quá trình sản sinh và hiểu diễn ngôn [tr.
Phân loại diễn ngôn Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn. Nếu dựa vào phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết. Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói. Một hướng phân loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại.
Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và cả ngôn ngữ trong văn học. Tuy nhiên theo Hausenblas [dẫn theo Diệp Quang Ban] thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ. Đó là ngữ pháp và phong cách học. Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại diễn ngôn như sau: a.
Cách thứ nhất: Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc * Phân loại diễn ngôn trên cơ sở cấu trúc nội tại: Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính liên tục/tính gián đoạn của các diễn ngôn, tác giả tiến hành phân loại các diễn ngôn: - Các diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc; - Các diễn ngôn tự do và các diễn ngôn lệ thuộc; - Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn. Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc dạy học ở nhà trường. * Phân loại dựa trên khuôn hình văn bản: Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được người ta chỉ có thể chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn: - Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học - kỹ thuật. - Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm: + Nhóm nhỏ có những khuôn hình thông dụng: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí.
+ Nhóm nhỏ có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn học nghệ thuật. Cách thứ hai: Phân loại diễn ngôn theo phong cách Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại diễn ngôn khác nhau là phong cách học nhất là phong cách chức năng. Ngay từ năm 1984, tác giả Morohovski [dẫn theo Diệp Quang Ban] đã đưa ra bảng phân loại diễn ngôn với các tiêu chí riêng.