Chương 1: Một số vấn đề lý luân có liên quan của luận văn. Chương 2: Định nghĩa danh từ trong Từ Điển Tiếng Việt. Chương 3: Định nghĩa vị từ trong Từ Điển Tiếng Việt. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬN VĂN Muốn miêu tả nghĩa và xây dựng các “mô hình” định nghĩa, chúng ta cần phải phân tích nghĩa.
Tuy nhiên, muốn phân tích được nghĩa từ thì phải hiểu bản chất và cấu trúc nghĩa. Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề lý luận về nghĩa của từ và phương pháp phân tích nghĩa từ. Lý luận về nghĩa của từ và cơ cấu nghĩa của từ 1. Nghĩa của từ Trước đây, ngữ nghĩa học truyền thống chỉ đóng khung trong việc miêu tả, phân loại nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ.
Hiện nay, ngữ nghĩa học hiện đại đã chuyển sang việc phát hiện ra các quy tắc điều khiển các quá trình tạo nghĩa. Do vậy, ngữ nghĩa học bao gồm hai bộ phận: ngữ nghĩa học hệ thống (chủ yếu là ngữ nghĩa học từ vựng) và ngữ nghĩa học hoạt động. Từ là một đơn vị của ngôn ngữ và có nghĩa vì thế nghĩa của từ tất yếu là một đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa học. Nếu ngữ nghĩa học từ vựng phân tích và miêu tả nghĩa của từ trong hệ thống tức là trong trạng thái tĩnh và ổn định thì ngữ nghĩa học hoạt động lại nghiên cứu nghĩa của từ trong trạng thái hành chức, trạng thái động tức là gắn với phân tích diễn ngôn, trạng thái ngôn ngữ đang hoạt động trong quá trình giao tiếp.
Với cách tiếp cận này, ta thấy nghĩa của từ cũng là một đối tượng phức tạp, nó bao gồm những thành tố nghĩa nhỏ hơn. Chúng ta thường bắt gặp các thành phần nghĩa sau: ♦ Sở chỉ và nghĩa sở chỉ: “Một cá thể sự vật mà từ đó chỉ ra, được gọi là (vật) sở chỉ (referent) của từ. Khi đó, quan hệ giữa từ và sở chỉ là: từ quy chiếu (refer) sở chỉ. Quan hệ này là quan hệ quy chiếu, sự quy chiếu (reference)”.
Để hiểu một cách sâu sắc hơn, chúng ta xem xét ví dụ sau: - Con mèo nhà Mai rất đẹp. (1) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Con chim kia hót hay quá. (2) Trong hai câu trên, hai từ mèo và chim là hai từ có nghĩa. Câu 1: chỉ ra một con mèo cụ thể, con mèo ấy nhà Mai là chủ sở hữu (Con mèo nhà Mai).
Câu 2: chỉ ra một con chim cụ thể (con chim kia). Ngữ nghĩa học gọi con mèo, con chim được chỉ xuất một cách cụ thể trong những trường hợp này là sở chỉ của từ. Mối quan hệ giữa từ với cái sở chỉ gọi là nghĩa sở chỉ. Nghĩa sở chỉ chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói.
Mối quan hệ giữa từ với cái sở chỉ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể, bởi vậy, nó không có tính ổn định. Cái sở chỉ bao gồm các đối tượng nằm ở cả thế giới hiện thực và phi hiện thực. Ví dụ: thần, tiên, ma, quỷ, thiên đường, địa ngục… mặc dù chúng là những sự vật không tồn tại trong thế giới hiện thực nhưng được người Việt nhận thức về mặt văn hóa – xã hội nên vẫn được gọi tên bằng các từ tương ứng. ♦ Sở thị và nghĩa sở thị: Bên cạnh nghĩa sở chỉ, nghĩa sở thị cũng là một thành tố nghĩa rất quan trọng được các nhà ngữ nghĩa học quan tâm.
Để hiểu sâu sắc về thành tố nghĩa này, chúng ta quan sát ví dụ sau: - Mèo là loài vật nuôi. - Chim là động vật có lông vũ, có khả năng bay. Ở hai ví dụ trên, ta thấy mèo, chim không phải là tên gọi một cá thể đặc biệt nào mà đó là tên gọi chung cho một lớp sự vật trong thế giới khách quan. Từ mèo là tên gọi chung cho cả loài mèo, bất kể con mèo nào, loại mèo nào: mèo tam thể, mèo mướp, …Từ chim là tên gọi chung cho cả loài chim bất kể thứ chim gì: chim ưng, chim sẻ, chim yến, chìa vôi, sơn ca… Như vậy, nghĩa sở thị của từ là sự biểu thị các lớp sự vật, hiện tượng, quá trình… dưới dạng một tập hợp những đặc điểm, thuộc tính chung nhất, đặc trưng nhất, bản chất nhất đủ để phân biệt sự vật này với sự vật khác.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hay nói cách khác, nghĩa sở thị là mối quan hệ giữa từ với khái niệm, biểu tượng. Còn những khái niệm, biểu tượng có quan hệ với từ gọi là (cái) sở thị. Nghĩa sở thị của từ là thành phần nghĩa rất được các nhà ngôn ngữ học quan tâm. Có nhà nghiên cứu phân biệt nó với nghĩa khái niệm nhưng có nhà nghiên cứu lại coi như nhau.
Trong luận văn này, chúng tôi cũng không phân biệt như vậy. Nghĩa khái niệm là thành phần nghĩa cơ bản, cốt lõi. Thông thường, trong những trường hợp không thực sự cần thiết phải phân biệt một cách rõ ràng người ta vẫn gọi nghĩa khái niệm là nghĩa của từ. Tuy nhiên chúng ta vẫn ngầm hiểu rằng đó là nghĩa khái niệm.
Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm nghiên cứu nghĩa sở thị của từ hay còn gọi là nghĩa của từ. Nghĩa của từ cũng như từ, nó là một tổ chức bao gồm các “thành tố” sắp xếp theo một trật tự nhất định, có quan hệ quy định lẫn nhau. Cơ cấu nghĩa của từ Mỗi từ có một nghĩa hoặc nhiều nghĩa. Từ đa nghĩa là từ có hơn một nghĩa trở lên.
Mỗi nghĩa của từ đa nghĩa cũng có cơ cấu, tổ chức như nghĩa của từ đơn nghĩa. Người ta có thể phân tách mỗi nghĩa thành các nghĩa tố nhỏ hơn để có thể xác định được quan hệ giữa các thành tố. Mỗi từ có thể đơn nghĩa hoặc đa nghĩa. “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại”.
Ví dụ: Từ miệng trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa. Các nghĩa của từ miệng được miêu tả là một cơ cấu có tổ chức. Ban đầu, từ miệng có nghĩa: “Bộ phận trên mặt người hay ở phần trước của đầu động vật, dùng để ăn, và (ở người) để nói”. Sau đó, từ miệng chuyển sang gọi tên cho các sự vật khác và biểu thị những nghĩa khác: - Miệng ăn.
- (Giao tiếp bằng) lời nói trực tiếp, không phải viết. - Phần trên cùng, chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật có chiều sâu. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự xuất hiện của từ đa nghĩa có hai nguyên nhân chính: - Quá trình nhận thức của cộng đồng bản ngữ, đặc điểm định danh của ngôn ngữ. - Quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ (dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn), cụ thể hơn là cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau.
Nhìn ví dụ về từ miệng ta thấy: Nghĩa ban đầu của từ miệng là nghĩa có trước, nghĩa cơ bản nên được gọi là nghĩa gốc. Những nghĩa sau là những nghĩa được xây dựng trên cơ sở nghĩa ban đầu còn gọi là nghĩa phái sinh. Như vậy, nghĩa của từ được sắp xếp theo một tổ chức nhất định, người ta có thể chia thành: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh dựa trên trên tiêu chí nguồn gốc của từ. Nghĩa gốc: là nghĩa đầu tiên (nghĩa có trước), là nghĩa không thể giải thích được lý do, được nhận ra một cách độc lập, không cần thông qua nghĩa khác.
Nghĩa phái sinh: là nghĩa được hình thành dựa trên cơ sở nghĩa gốc, là nghĩa có lý do, được nhận ra qua nghĩa gốc của từ. Một từ có thể có nhiều nghĩa, trong từng nghĩa lại có thể phân ra thành các nét nghĩa nhỏ hơn nữa, ta gọi đó là các nghĩa tố. ♦ Nghĩa tố: Theo U. Weinreich “Điều mong muốn phân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một quan hệ tôn ti giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học” [22, tr.
Như vậy, đã từ lâu, các nhà ngữ nghĩa học quan tâm nghiên cứu về cấu tạo của nghĩa từ. Trong quá trình nghiên cứu ấy, họ nhận thấy rằng mỗi nghĩa từ là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa gọi là các nét nghĩa. Hay nói cách khác: Nghĩa tố (nét nghĩa) là những thành tố tối giản, căn bản, cần yếu khi ta đi sâu vào phân tích từng nghĩa của từ. Ví dụ: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giáo viên: Người// dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương.
- Bộ đội: Người// trong quân đội. So sánh nghĩa của cặp từ trên, ta thấy: [dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương] là nét đặc trưng của từ giáo viên còn [trong quân đội] là nét đặc trưng của từ bộ đội. [Người] là nét đặc trưng chung của hai từ bộ đội và giáo viên. Ta gọi đó là các nét nghĩa hay nghĩa tố.
Trong cơ cấu nghĩa của từ, nghĩa tố : “được xem như là sự phản ánh một dấu hiệu đặc trưng, ứng với một thuộc tính chung hoặc riêng của sự vật, hiện tượng, được đưa vào nghĩa sở thị (biểu niệm) của từ và chúng cũng được sắp xếp trong một cơ cấu tổ chức nhất định nào đó”. 328] Nghĩa tố của từ giúp ta phân biệt từ này với từ khác. Tuy nhiên, mỗi nghĩa tố có thể là yếu tố ngữ nghĩa riêng của một từ đối lập với nghĩa của các từ khác trong cùng một nhóm hoặc là yếu tố ngữ nghĩa chung của các từ thuộc cùng một nhóm từ vựng. Ví dụ: tai, mắt, mũi… đều có nét nghĩa chung là: bộ phận cơ thể người, động vật.
Nhưng nét nghĩa: để nghe, để nhìn, để ngửi… là những nét nghĩa riêng của các từ này. Nói cách khác, một nét nghĩa có thể được coi là nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa bao trùm nó, cũng có thể là một nét nghĩa khái quát so với các nét nghĩa hẹp hơn mà nó phân chia ra. Ví dụ: nét nghĩa [thay đổi tư thế] là nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa [hành động] nhưng so với nét nghĩa [thay đổi tư thế của thân], [thay đổi tư thế của mặt], [thay đổi tư thế của đầu]…thì lại là nét nghĩa khái quát. Làm thế nào chúng ta có thể phát hiện ra các nét nghĩa (nghĩa tố)? Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học thường áp dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để tìm ra những nét nghĩa chung và riêng của từ.