CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HƯƠNG ƯỚC VÀ ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ 1. Một số vấn đề về hương ước Hương ước là một hiện tượng, một thực thể được sinh ra trong làng xã và gắn liền với làng xã: Quá trình phát sinh, phát triển và mọi vận động của hương ước đều gắn chặt với mỗi sự vận động, biến đổi, mỗi thăng trầm của làng xã. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về hương ước đều phải xuất phát từ các vấn đề làng xã. Làng xã cổ truyền Việt Nam 1.
Khái niệm Theo GS. Nguyễn Quang Ngọc, làng xã cổ truyền Việt Nam có nguồn gốc từ công xã nông thôn, ra đời vào giai đoạn tan rã của chế độ Công xã nguyên thủy, hình thành xã hội có giai cấp, nhà nước đầu tiên, tức là khoảng thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên [46]. Khái niệm làng và xã, trong lịch sử xa xưa gắn với khái niệm “hương”. Theo lịch sử, tổ chức cơ sở hương xuất hiện vào đầu thời Đường (Trung Quốc).
Trong thời kỳ Bắc thuộc, khi nước ta còn bị chính quyền phong kiến phương Bắc đô hộ, dưới huyện có tiểu hương, đại hương, xã nhỏ, xã lớn (gọi là tiểu xã và đại xã). Sử liệu để lại cho thấy, hương gồm có: hương nhỏ từ 70 đến 150 hộ, hương lớn từ 160 đến 540 hộ và xã gồm xã nhỏ từ 10 đến 30 hộ, xã lớn từ 40 đến 60 hộ. Như vậy ban đầu xã là một đơn vị nhỏ nằm trong hương (tức là làng) chứ không phải xã lớn hơn hương, hơn làng như cách hiểu sau này. Cách gọi chung “làng xã” có nguồn gốc như vậy [43] Trong tác phẩm “Xã thôn Việt Nam”, Giáo sư Nguyễn Hồng Phong dùng khái niệm “xã thôn” do ông cũng quan niệm xã là một đơn vị hành chính có bộ máy cai trị, còn thôn hợp thành xã thường có tính chất tự trị, “tự quản” của cộng đồng dân cư nông nghiệp [49].
Nhà dân tộc học Trần Từ trong tác phẩm “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ”, đã phân biệt rõ ba khái niệm: làng - xã và thôn. Theo đó, làng là đơn vị tụ cư, xã là đơn vị hành chính, còn thôn vốn là từ để chỉ “làng” nhưng được dùng trong giấy tờ hành chính, trong trường hợp làng đó được nhập với các làng khác để thành một xã [73]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiến sĩ Bùi Xuân Đính trong tác phẩm “Hương ước và quản lý làng xã” cho rằng: Làng là một từ Nôm dùng để chỉ đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạ tầng, cùng cơ cấu tổ chức, lệ tục riêng, hoàn chỉnh và ổn định qua quá trình lịch sử; còn xã là từ Hán - Việt, chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến ở vùng nông thôn Việt, nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám, trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần đông mỗi làng là một xã, do vậy người nông dân thường ghép hai từ này làm một: làng – xã [20]. Tổng hợp, phân tích đánh giá và đối chiếu kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, chúng ta có thể nói: làng và xã là hai khái niệm khác nhau, làng là đơn vị tụ cư, tự quản, còn xã là đơn vị hành chính, xã có thể bao gồm từ một đến nhiều làng, nhưng đa số các trường hợp xã chỉ có một làng, do vậy thường có sự đồng nhất và ghép làng với xã làm một: làng xã.
Khi làng trở thành một yếu tố cấu thành của một đơn vị hành chính thì làng cũng được gọi là thôn. Làng và thôn là những khái niệm đồng nghĩa nhưng có sắc thái khác nhau. Làng được sử dụng chủ yếu trong ngôn ngữ thông thường chỉ sự liên kết cộng đồng và cộng cảm của các cư dân sinh sống trong một đơn vị tụ cư, gắn bó lâu đời với nhau trong sản xuất và sinh hoạt. Thôn biểu đạt tính chất nửa hành chính, nửa tự trị có chức năng giáp nối, gắn kết hai hệ thống chính trị và xã hội, hành chính và tự trị.
Vậy, làng xã cổ truyền - đó là một đơn vị tụ cư, một cộng đồng kinh tế, văn hóa - xã hội của người Việt ở khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống, có bộ máy quản lý hoạt động theo cơ chế tự quản. Làng xã cổ truyền Việt Nam đã từng được củng cố vị trí trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và trong gần một nghìn năm tiếp theo của tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam.Làng xã cổ truyền Việt Nam có những đặc điểm rõ nét và đặc sắc. Một số đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội của làng xã cổ truyền Việt Nam Nghiên cứu làng xã cổ truyền, chúng ta thấy có hai đặc trưng lớn và quan trọng nhất, đó là tính cộng đồng và tính tự trị, tự quản. Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên lại với nhau, tất cả đều hướng tới cái chung của làng, mỗi người đều hướng tới người khác.
Tính cộng đồng đã tạo nên sự độc lập, khép kín mang tính tự trị, tự quản rất sâu sắc của làng xã cổ truyền. Chính tính cộng đồng cao, tính tự trị và tính tự quản đó đã khiến cho làng xã cổ truyền khá ổn định trước biết bao những biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc. Tính cộng đồng, tự trị và tự quản của làng xã cổ truyền được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, có thể thấy nó được biểu hiện ở những đặc điểm cơ bản sau: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Làng trước hết là một cộng đồng về địa vực Mỗi làng đều có một không gian ổn định, gianh giới thường được xác định bằng con đường, sông, ngòi…, được ghi cụ thể trong hương ước, địa bạ. Về hình thức, lũy tre xanh đã tạo ra một không gian cư trú ổn định và bền vững của làng xã cổ truyền.
Lãnh thổ của làng Việt ở khu vực đồng bằng sông Hồng là kết quả của quá trình khai hoang tập thể của những người nông dân. Tính “cộng cư” là yếu tố đầu tiên gắn kết người nông dân lại với nhau, tạo ra ý thức địa vực trong họ. Ý thức về cộng đồng trước hết thể hiện ở ý thức về địa vực và thể hiện rõ nhất là dân “chính cư” và “ngụ cư” - đây là một trong nhưng cơ sở đầu tiên để hình thành tục lệ của làng xã sau này. Làng là một cộng đồng về kinh tế Phần lớn các làng Việt Nam là những làng nông nghiệp trồng lúa nước là nghề chính.
Mỗi làng là một đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp. Ngoài làng nông nghiệp, còn có các làng nghề khác như: làng nghề thủ công, làng buôn, làng chài lưới đánh bắt cá… Làng là một cộng đồng về sở hữu Ngoài nơi cư trú, không gian của làng nào cũng có đồng nội, nhiều nơi có sông, ngòi, rừng cây… trong đó ruộng đất là tài sản quan trọng và quí nhất. Từ thời Lý - Trần về trước, ruộng công làng xã chiếm tỷ lệ rất cao và làng có quyền gần như tuyệt đối với ruộng đất. Nhưng đến thời Lê, quyền trên của làng bị suy giảm bởi chính sách quân điền của nhà nước ban hành vào các năm 1429 và 1477.
Dù còn nhiều hay ít, nhưng số ruộng công của làng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần của làng xã cổ truyền. Làng là một cộng đồng tự quản bằng nhiều hình thức Tự quản là một đặc điểm rất điển hình của làng xã cổ truyền Việt Nam, chúng ta có thể xem xét ở một số góc độ sau: - Tự quản bằng cơ cấu tổ chức Mỗi làng Việt là một phức hợp về thiết chế tổ chức dựa theo nguyên tắc tập hợp người trên cơ sở các mối quan hệ, như Nhà dân tộc học Trần Từ đã đề cập trong tác phẩm “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” [73]. + Gia đình và dòng họ: Là thiết chế tổ chức dựa theo quan hệ huyết thống. Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là gia đình là những thành tố cấu thành gia tộc (dòng họ).
Ở nông thôn, dòng họ là một thiết chế xã 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội rất chặt chẽ, thực sự là một cộng đồng gắn bó, có vị trí, vai trò quan trọng cả ở trong và ngoài làng. Mỗi họ thường có nhà thờ họ và ruộng công để sử dụng vào các sinh hoạt chung của họ. Mỗi làng là tập hợp của nhiều gia đình, thuộc nhiều dòng họ khác nhau. Gia đình là một đơn vị tổ chức sản xuất, đơn vị tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống, đơn vị giáo dục và trao truyền văn hóa.
Họ tuy không đóng vai trò cốt yếu trong sản xuất, phát triển kinh tế, nhưng về mặt xã hội, họ tồn tại như một sức mạnh tinh thần, tâm lý, ý thức rất lớn để phát huy truyền thống, để gắn kết các thành viên “họ chín đời hơn người dưng” huy “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Bên cạnh những mặt tích cực như sự giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau…, quan hệ dòng họ cũng nẩy sinh nhiều tiêu cực, như tính cục bộ, bè phái dòng họ… + Xóm ngõ: Làng ở đồng bằng Bắc Bộ thường được phân thành các xóm, xóm lại phân thành nhiều ngõ. Một làng có thể có vài xóm, có nơi xóm lại là bộ phận của thôn và thôn là bộ phận của làng hoặc có thể thôn cũng là làng. Xóm được hiểu theo cách thông thường nhất là phân thể của khu cư trú một làng.
Ngõ là chỉ lối đi nhỏ trong làng mà hai bên là các gia đình. Mỗi xóm gồm vài ba chục gia đình với quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống với nhau. Lối sống quần cư ấy trên cơ sở một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, qui định thế ứng xử của người nông dân theo nguyên tắc “xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau” hoặc “bán anh em xa mua láng giềng gần”. + Giáp: Trước hết, giáp là một tổ chức giành riêng cho nam giới.
Trong quá trình tồn tại, giáp biến đổi trên nguyên tắc chỉ đàn ông mới được vào giáp và cha truyền con nối (cha ở giáp nào thì con vào giáp ấy). Giáp hoạt động theo nguyên lý lớp tuổi; mọi thành viên trong giáp cùng độ tuổi đều bình đẳng quyền lợi, nghĩa vụ.