mở đầu cho cuộc cải cách giáo dục tiếp theo bằng việc ban hành Nghị định “Học chính tổng quy” (gồm 7 chương với 538 điều). Bộ tổng quy về học chính này can thiệp sâu hơn vào hoạt động giáo dục, thâu tóm quyền lực và biểu đạt ý chí nô dịch giáo dục của thực dân Pháp: xoá bỏ nền giáo dục phong kiến, xác lập mô hình giáo dục phổ thông và thực nghiệp ở Việt Nam do thực dân quản lý. Chúng lập ra trường Pháp để dạy học sinh người Pháp theo chương trình của “Chính quốc”, lập ra trường Pháp - Việt dạy cho học sinh người Việt theo chương trình dành cho “bản xứ ”. Năm 1919, nhà cầm quyền Pháp ra lệnh bãi bỏ thi hương, thi hội và cấm các trường tư hành nghề (trừ trường tư Thiên chúa giáo của các cố đạo phương Tây).
Chúng cho một số xã đông dân được mở trường sơ học với một vài lớp đầu cấp, một số huyện lỵ, thị trấn, thị xã được mở trường tiểu học 6 năm, một số thành phố lớn mở trường cao đẳng tiểu học 4 năm (như 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ thông cơ sở ngày nay), Hà Nội, Huế, Sài gòn mỗi thành phố được mở một trường cao trung (như trường trung học phổ thông ngày nay). Việc quy định mở trường như vậy là rất độc đoán, ngặt nghèo. Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương Méclanh lại thực hiện một cuộc cải cách giáo dục nữa. Cuộc cải cách này thắt chặt hơn, bộc lộ đầu óc thực dân thâm hiểm hơn về chính sách giáo dục.
Chúng nói rằng người Việt Nam rất hạn chế về sức học, nên chỉ cần mở trường sơ học là đủ (!). Ở Bắc kỳ cho mở trường “hương học”, ở trung kỳ cho mở trường “dự bị”, ở Nam kỳ cho mở trường “phù trợ dự bị”, ở thị trấn, thị xã được mở lớp “kiêm bị”. Tất cả các hệ thống trường lớp này, về chương trình đều không quá trình độ lớp 4 hiện nay. Còn các trường cao đẳng tiểu học, trường trung học chỉ có ở những thành phố lớn, nhưng số lượng trường hết sức ít ỏi.
Ví dụ, ở thành phố Huế có trường Cao đẳng tiểu học Quốc học Huế, ở thành phố Hà Nội có trường Trung học Anbe sarô. Rõ ràng, thực dân Pháp cố tình kìm hãm giáo dục ở nước ta bằng cách hạn chế tối đa việc mở trường. Năm 1921, theo một thống kê được đưa ra công luận là ở xứ An Nam cứ trung bình 1000 làng thì có 10 trường học (trong khi đó lại có 1500 đại lý rượu và thuốc phiện cũng cho bấy nhiêu làng ấy) [34,25]. Năm 1923, nạn thiếu trường học vẫn diễn ra “một cách tệ hại”, “mỗi năm, cứ đến ngày khai trường, các bậc cha mẹ dù có đi gõ cửa khắp nơi, cầu xin mọi sự giúp đỡ, thậm chí xin nộp gấp đôi tiền ăn học mà họ vẫn không gửi được con cái đến trường.
Người ta nói rằng ngân sách không đủ cho chính phủ xây thêm trường mới. Không hẳn thế đâu.” [34,154] Năm 1939, được coi là năm đỉnh cao của sự phát triển kinh tế và xã hội ở Đông Dương, mà ở nước ta cũng chỉ có hơn 400.000 học sinh tiểu học, 3000 học sinh trung học, 582 học sinh đại học trên tổng số 23 triệu dân lúc đó [52,160]. Năm học 1941-1942, tức là vào thời điểm sau hơn 80 năm được “khai hoá” về giáo dục, theo Niên giám thống kê Đông Dương, tập 7, năm 1942, người Pháp mới đầu tư mở được 8.775 trường sơ học với 486.362 học sinh, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 503 trường tiểu học với 58.629 học sinh, 16 trường cao đẳng tiểu học với 5.521 học sinh, 3 trường trung học với 652 học sinh. Năm 1942, bậc sơ học gồm cả trường công và trường tư có 535.037 học sinh, trong khi đó, bậc trung học (không có trường tư vì trường tư không được mở) chỉ có 652 học sinh.
Nghĩa là cứ 100 người đi học thì 99 người phải bỏ dở giữa chừng! Việc mở trường cao đẳng và đại học có tính chuyên nghiệp thì nhà cầm quyền lại càng tính toán và hạn chế. Đến cuối năm học 1943-1944, cả Đông Dương chỉ có 1259 sinh viên cao đẳng và đại học ở các trường Y dược, Thú y, Sư phạm, Nông lâm, Công chính, Thương mại, Khoa học, Luật khoa. Trong số 1259 sinh viên, thì sinh viên Luật khoa là 394, Cao đẳng khoa học là 175, Cao đẳng công chính 84, Nông lâm 63, Thú y 39… [14,137]. Rõ ràng người Pháp có dụng ý về mục tiêu đào tạo.
Họ cần nhiều sinh viên Luật để bổ sung vào đội ngũ công chức hành chính của bộ máy cai trị. Việc đi du học lại càng ngặt nghèo và thu hẹp. Toàn quyền Đông Dương trực tiếp phê học bạ, xét hồ sơ và quyết định từng trường hợp học sinh An Nam sang học tại Pháp. “Điều 500 (Bis) của nghị định ngày 20 tháng 6 năm 1921 về học chính ở Đông Dương nói như sau: Mọi người bản xứ, vô luận là dân thuộc địa Pháp hay dân do Pháp bảo hộ, muốn sang chính quốc tiếp tục học tập, đều phải được phép của quan toàn quyền.
Quan toàn quyền sẽ quyết định sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến và quan giám đốc Nha học chính. Trước khi đi, đương sự phải có một học bạ đại học do Nha học chính cấp, có dán ảnh và ghi rõ lý lịch, địa chỉ cha mẹ, những trường đã học, các học bổng hoặc trợ cấp đã được hưởng, các bằng cấp đã có và địa chỉ người bảo lãnh ở Pháp. Học bạ đó phải được quan toàn quyền phê chuẩn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Thực dân Pháp chẳng những đã hạn chế việc học hành của dân chúng bằng cách chỉ phổ cập nền giáo dục sơ đẳng “một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt” mà còn chú trọng đưa nội dung nhồi sọ vào chương trình và hoạt động giáo dục “làm cho u mê để thống trị”.
Đó là thực trạng và bản chất của nền giáo dục ở Việt Nam thời Pháp thống trị. Nhà cầm quyền Pháp đã cố tâm hủy bỏ Hán học vì chúng thấy Hán học có thể đưa vào Việt Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây qua Trung Quốc và Nhật Bản, Hán học đã đào tạo một lớp sỹ phu lãnh đạo phong trào chống Pháp đầy dũng khí. Do đó, chúng đẩy mạnh việc chiếm độc quyền về giáo dục, để gạt bỏ cái gì là bản lĩnh dân tộc và nhào nặn tinh thần vong bản cho người dân thuộc địa. Nhồi sọ là nội dung căn bản nhất của nền giáo dục nô lệ, của chính sách ngu dân.
“Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm. Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nó làm cho thanh niên trở nên ngu ngốc. Điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường.
Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi ” [34,399]. Những thủ đoạn độc ác của thực dân Pháp làm cho nhân dân ta bần cùng, khốn khổ không thể đi học được, và cố tình thu hẹp trường lớp để gạt ra hàng loạt những học sinh có năng lực học tập mà không có chỗ học đã dẫn đến một hậu quả hết sức đen tối. “Nạn mù chữ và thất học trầm trọng khắp trong nước: 95% dân chúng không biết đọc, biết viết, số học sinh tiểu học chỉ bằng 0,80% dân số, số học sinh trung học chưa đầy 0,30% dân số” 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. “Còn đối với trí thức thì tuy rằng thực dân và phong kiến cũng trực tiếp bóc lột về vật chất, song chúng dành một tí ti cái chúng bóc lột được để mua chuộc trí thức.
Nhưng chúng áp bức bóc lột trí thức tàn tệ về mặt tinh thần. Chúng đã làm cho trí thức xa rời thực tế, xa rời nhân dân. Chúng đã làm cho một số trí thức mơ màng đến nỗi quên nước mình bị nô lệ, quên tự mình là nô lệ, không phân biệt được ai là bạn, ai là thù, không phân biệt được thế nào là sai, là đúng. Đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân và phong kiến” [40,146].
Tuy nhiên, nền giáo dục ở nước ta trong thời Pháp thống trị cũng làm nảy sinh những hệ quả ngoài mong muốn của kẻ thù. Đó là sự xuất hiện một bộ phận trí thức tân học có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc, trong đó có những người rất tiên tiến, đã biết chớp thời cơ học tập, rèn luyện văn hoá, để khi có điều kiện thì đem tài năng và nhiệt tâm đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc. Họ tự nguyện tham gia các phong trào yêu nước như phong trào đòi ân xá chính trị phạm, phong trào để tang nhà ái quốc Phan Châu Trinh. Họ theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh làm cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và kiến thiết nước nhà.
* * * Tóm lại, nền giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thống trị là nền giáo dục nô dịch do thực dân Pháp chủ trương và kiểm soát. Chúng kiềm chế việc mở mang trường lớp, và nhồi sọ về nội dung giảng dạy với mục đích làm cho nhân dân ta u mê, cam chịu, mất ý thức tự chủ, giảm sút tinh thần đấu tranh tự giải phóng. Nền giáo dục nô dịch ấy đã được xoá bỏ từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và được thay bằng một nền giáo dục mới, nền giáo dục dân tộc, dân chủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo, đã đem lại các giá trị tinh thần tốt đẹp, mới mẻ cho nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ ở nƣớc ta những năm 1945-1946 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.