Chương 1: Cơ sở lý luận về quỹ dự phòng cho khoa học và công nghệ Chương 2: Hiện trạng cấp phát kinh phí cho các đề tài nghiên cứu KH&CN tại Bộ Công Thương Chương 3: Giải pháp hình thành quỹ dự phòng nhằm khắc phục những hạn chế trong việc cấp phát kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ DỰ PHÒNG CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm công cụ 1. Khái niệm khoa học Khoa học được hiểu là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
Hệ thống tri thức được nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm.13] Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy một cách ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày, nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội. Tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, chứa đựng những mặt đúng đắn, nhưng riêng biệt, chưa thể đi sâu vào bản chất các sự vật, và do vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con người phát triển đến một khuôn khổ nhất định. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm luôn là một cơ sở quan trọng cho sự hình thành các tri thức khoa học.13] Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học. Tri thức khoa học không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất [26, tr.
Khái niệm công nghệ Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [26, tr 17] 1. Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Nguồn vốn cho khoa học và công nghệ 1.
Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ chốt trong việc đầu tư cơ sở vật chất tạo ra một hệ thống nghiên cứu đồng bộ. Phần lớn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng công nghệ được đầu tư bằng vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Thực tế này xuất phát từ vai trò và nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng khoa học và công nghệ cho xã hội trong điều kiện thực hiện cơ chế kinh tế thị trường. Mặt khác, nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ có tính chất tương đối mạo hiểm nên ngân sách nhà nước mới có khả năng thực hiện.
Đầu tư của NSNN đóng vai trò định hướng, điều phối trong việc phát triển khoa học và công nghệ, từ đó phục vụ tốt cho việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Đối với các dự án, nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia thì vai trò đầu tư của ngân sách nhà nước lại càng đặc biệt quan trọng. - Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. ở Việt Nam, ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó: + Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nướ phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.[30] Thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; - Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; - Các khoản viện trợ; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
[32, tr4] Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. [30] Chi NSNN là công cụ tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động nguồn lực tài chính của nhà nước đầu tư cho các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Khoa học và công nghệ. Mức chi của ngân sách nhà nước nhiều hay ít ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành những điều kiện cần thiết cho hoạt động của các cơ sở Khoa học và công nghệ, đến hoạt động nghiên cứu triển khai Khoa học và công nghệ trong các cơ sở, tổ chức nghiên cứu Khoa học và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghệ. Thực tế ở Việt nam, vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chủ đạo, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn của cơ sở, tổ chức Khoa học và Công nghệ nghiên cứu triển khai.
- Chi NSNN là quá trình ngân sách nhà nước phân phối sử dụng nguồn tài chính tập trung được vào việc duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Trong đó chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên là nội dung chi quan trọng bao gồm cả chi cho khoa học và công nghệ. Chi ngân sách cho hoạt động KH&CN [21, tr2] Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nguồn ngân sách nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, vốn đầu tư của ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, chi đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các tổ chức khoa học và công nghệ không phân biệt thành phần kinh tế theo các nội dung sau; - Xây dựng mới, nâng cấp, tăng cường năng lực nghiên cứu của các tổ chức Khoa học và công nghệ bao gồm: phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm, trạm thực nghiệm, trung tâm phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn và đánh giá sự phù hợp, các cơ sở thiết kế, chế tạo, thử nghiệm chuyên dụng; các cơ sở ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn-đo lường- chất lượng; tổ chức trung gian của thị trường Khoa học và công nghệ; - Xây dựng khu nghiên cứu và phát triển cho các khu công nghệ cao; - Xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê về Khoa học và công nghệ; - Các hoạt động đầu tư khắc phục phát triển Khoa học và công nghệ Thứ hai, kinh phí hoạt động thường xuyên cho các tổ chức Khoa học và công nghệ công lập bao gồm: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.