Chương 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX VÀ VẤN ĐỀ TÁI ĐỘC TÔN NHO GIÁO 1. Khái lược về Nho giáo và vị trí, vai trò của Nho giáo ở Việt Nam trước thế kỷ XIX 1. Nho giáo và những tư tưởng cơ bản của Nho giáo Nho giáo là một học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức ra đời và phát triển trong xã hội phong kiến Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc. Nho giáo do Khổng Tử (551-479 TCN) sáng lập, nhưng tư tưởng Nho giáo đã có trước Khổng Tử.
Các tư tưởng cơ bản của Nho giáo nằm trong các bộ kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, được Khổng Tử san định lại với tinh thần “thuật nhi bất tác” nhằm tiếp thu, hệ thống lại và khẳng định những nguyên tắc cai trị, nguyên lý cơ bản của Nho giáo. Kinh điển của Nho giáo bao gồm Tứ thư (Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử, Luận Ngữ) và Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Trong hơn hai nghìn năm tồn tại với tư cách là dòng chính của văn hoá Trung Quốc, Nho giáo đã gìn giữ và làm giàu di sản văn hoá Trung Quốc, văn hoá Phương Đông. Quá trình phát triển của Nho giáo có thể khái quát thành hai giai đoạn chính: Nho giáo Tiên Tần và Nho giáo từ nhà Hán đến nhà Thanh.
Nho giáo Tiên Tần hay còn gọi là Nho giáo nguyên thuỷ với các nhà tư tưởng tiêu biểu như: Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập, Mạnh Tử (372 - 289 TCN), Tuân Tử (313 - 238 TCN) kế thừa và phát triển. Trong thời kỳ “Bách gia tranh minh”, “Bách gia chư tử” này, Nho giáo chưa có được ưu thế song nó đã thể hiện tính hệ thống và mang nhiều tính tích cực, nhân bản. Với lý tưởng thiết lập lại trật tự lễ pháp nhà Chu, hướng tới một thiên hạ bình trị, Nho giáo chủ trương dùng Nhân trị, Đức trị để giáo hoá, quản lý xã hội. Nho giáo đã đưa ra hàng loạt các chuẩn mực như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Hiếu, Trung… nhằm điều chỉnh hành vi của con người, tạo ra con người của xã hội phong kiến có tôn ti trật tự.
Tóm lại, Nho giáo thời kỳ này “coi trọng việc hoàn thiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo đức cá nhân và các sách lược làm cho dân yên nước trị thông qua “nhân học” của Khổng Tử, “nhân chính” của Mạnh Tử và “lễ luận” của Tuân Tử” [110, tr 84]. Nho giáo trong thời kỳ chế độ phong kiến Trung Quốc từ sau Khổng, Mạnh (nhà Hán đến nhà Thanh) được phát triển và sử dụng với vai trò là cơ sở lý luận để xây dựng, duy trì bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, thiết lập trật tự, kỷ cương của chế độ phong kiến phù hợp với yêu cầu và lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị. Sự phát triển của Nho giáo thời kỳ này, với từng triều đại phong kiến, có các khuynh hướng khác nhau: Đổng Trọng Thư thời nhà Hán, với tư tưởng thần bí hoá vương triều, đề cao thuyết “thiên nhân tương cảm”, hợp nhất phụ quyền, vương quyền với thần quyền, đồng thời tiếp thu các tư tưởng của Pháp gia trong việc cai trị, tạo ra một chính sách cai trị hai mặt “ngoại nho, nội pháp”; nhà Tuỳ, Đường lại có xu hướng “điều hoà Tam giáo” (Nho, Phật, Đạo); nhà Tống, Nho giáo tiếp thu nhiều tư tưởng của Đạo giáo và Phật giáo, tập trung vào các phạm trù Lý, Khí và Nho giáo đóng vai trò làm vũ khí thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội phong kiến; Nho giáo thời Nguyên, Minh, Thanh nhìn chung đều theo Tống Nho. Như vậy, trong thời kỳ sau Khổng, Mạnh, Nho giáo trở nên thần bí hoá, kết hợp chặt chẽ giữa thần quyền với thế quyền, phục vụ cho mục đích chính trị là bảo vệ và duy trì địa vị thống trị của giai cấp phong kiến.
Nho giáo không phải là tôn giáo mà là học thuyết chính trị - đạo đức của giai cấp phong kiến, trong mỗi thời kỳ, mỗi triều đại đều có một thứ Nho giáo của riêng thời kỳ đó, triều đại đó. Để tóm tắt tư tưởng chủ đạo, cốt lõi của Nho giáo nói chung là điều rất khó. Theo giáo sư Trần Văn Giàu: “Cái chung nhất đó, cái cơ bản nhất đó là cương thường. Và, cùng với cương thường là những: bát điều mục, cửu trù, thiên mệnh, chính danh, tuỳ thời, nhân trị, quân tử và tiểu nhân, v.v… Những cái ấy được tất cả hay số đông các nhà Nho các thời xem là chân lý vĩnh cửu: chân lý vĩnh cửu trời cho, đó cũng gọi là “đạo”, “thiên địa chi thường hình, cổ kim chi thông nghị” và “thiên địa bất biến, đạo diệc bất biến”.
Đó là những loại mắt kính mà tất cả hay hầu hết các nhà Nho đều mang vào để nhìn mọi hiện thực, xét mọi sự việc” [24, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo và tư tưởng cơ bản của Nho giáo. Mỗi giai đoạn phát triển của Nho giáo lại có sự kế thừa, bổ sung các tư tưởng trước đó, song tựu trung lại, tư tưởng cơ bản của Nho giáo đề cập đến những vấn đề: nguồn gốc thế giới, con người; vị trí, vai trò của con người trong thế giới, trong đó phần lớn nội dung của Nho giáo là những tư tưởng về chính trị, xã hội. * Lý giải về nguồn gốc thế giới và vạn vật, quan niệm của Nho giáo có hai xu hướng cơ bản.
Theo quan niệm duy tâm, trong Kinh Lễ, mọi vật có nguồn gốc do trời sinh ra: “Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ”. Nguồn gốc của vũ trụ, theo khuynh hướng duy tâm, xét đến cùng là trời. Khổng Tử và các học trò của ông không nói rõ ràng, hệ thống về “trời”. Có khi trời được quan niệm như là quy luật, trật tự của vạn vật: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành, vạn vật cứ sinh hoá mãi”; có khi trời lại được nhìn nhận như là một thực thể có nhân cách, có ý chí, có quyền năng vô hạn đối với vạn vật và con người.
Sống - chết, giàu - nghèo…, theo Khổng Tử đều do trời quy định, đều là do “mệnh trời”, con người với nỗ lực chủ quan không thể thay đổi được mệnh trời mà chỉ có thể hiểu, phục tùng và làm theo mệnh trời. Thậm chí, theo Khổng Tử, Đạo có thể lưu hành hay không cũng là do mệnh trời. Cũng trong quan niệm về thế giới, Khổng Tử coi quỷ thần là khí thiêng của trời đất, là không minh chứng được, không nhìn thấy, không nghe thấy, không có vai trò đối với con người. Song ông lại chủ trương, đối với quỷ thần con người phải tế, kính quỷ thần: “tế thần như thần tại” và “kính quỷ thần, nhi viễn chi, khả vị tri bề” (quỷ thần thì kính trọng, nhưng tránh xa ra, không nên mong đợi thần cứu giúp).
Như vậy ở Khổng Tử, một mặt, ông đề cao vai trò và truyền bá sức mạnh của trời, mặt khác, ông vẫn coi hoạt động của con người giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ. Dù không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần, nhưng ông khuyên con người nên kính trọng và tránh xa. Tư tưởng triết học trên của Khổng Tử về cơ bản là duy tâm, hướng con người tin vào mệnh trời và số phận. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mạnh Tử tiếp tục phát triển yếu tố duy tâm thần bí của Khổng Tử trong quan niệm về thế giới.
Theo Mạnh Tử, vạn vật có nguồn gốc ở trời, và bản tính vốn có của con người là thiện, cũng do trời phú cho. Quan niệm về thế giới của Đổng Trọng Thư là sự kết hợp quan niệm duy tâm thần bí về thế giới của Nho giáo Tiên Tần và tiếp thu trên cơ sở tước bỏ tính chất biện chứng quan điểm về thế giới của học thuyết Âm dương ngũ hành. Ông cũng coi trời là tổ của vạn vật và mọi sự vật, hiện tượng cũng như các quá trình biến hoá của tự nhiên, sự biến đổi của xã hội đều do sự an bài có ý thức, có mục đích của trời. Trời, trong thuyết “thiên nhân tương cảm” của ông, còn có xúc cảm, biết thưởng phạt, mọi hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, xã hội là sự thưởng hoặc trừng phạt của trời đối với người.
Các nhà Nho thời Tống, do tiếp nhận thêm các tư tưởng, phạm trù của Phật giáo và Đạo giáo, đã tạo ra một bước ngoặt của Nho giáo và triết học Nho giáo nói chung trong quan niệm về thế giới. Tư tưởng về nguồn gốc thế giới, vạn vật, được trình bày trong học thuyết về Lý, Khí. Theo Trình Hạo, Trình Di, Lý là bản thể, là khởi nguyên của thế giới khi âm dương chưa phân định. Lý phân thành âm, dương gọi là Khí.
Khí chính là vật liệu để sinh thành nên vạn vật. Quá trình sinh thành, tồn tại, mất đi của vạn vật là do sự vận động, biến hoá, tụ - tán của Khí. Lý là cái có trước, là gốc; Khí là cái có sau, là ngọn. Theo hai ông, Lý, Thái cực và trời là đồng nhất; vạn vật đều chỉ là một lý trời.
Đó là cái tinh thần vũ trụ độc lập với con người, là gốc vạn vật. Theo họ, Lý còn là đạo đức, luân lý làm người. Các quan hệ vua-tôi, cha-con, vợ-chồng… tất cả đều là lý trời. Trên cơ sở phát triển quan niệm Lý, Khí của Nhị Trình, Chu Hy cho rằng: Lý, Khí cùng tồn tại, mọi vật trong vũ trụ đều do Lý, Khí hình thành.
Ông cho rằng, nếu không có cái Lý ấy thì dù có cái Khí nào đó tồn tại thì cũng không thể sinh ra muôn vật, con người, nếu không có cái Khí ấy ngưng tụ lại thì cái Lý ấy cũng không có cái treo mắc và mất tác dụng. Lý và Khí thống nhất mới có thể biểu hiện được tác dụng sinh thành và tồn tại của tạo hoá. Trong sự thống nhất của Lý (tính) và Khí (hình thể) thì Lý là cái có trước, là cái cơ bản. Lý làm nên bản tính của sự vật và làm cho sự vật chính là nó.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chu Hy đã coi Lý là nguyên mẫu tối cao của trời đất. Theo ông, nếu toàn bộ vũ trụ, vạn vật như một chỉnh thể thống nhất thì cũng cần có một Lý cao nhất, bao trùm cái Lý của mỗi vật. Cái Lý đó là Thái cực, là cái tuyệt đối, nguyên mẫu, là đạo của vạn vật, ngoài ra không có gì cả.