phần Mở đầu, 3 Chương nội dung, phần Kết luận, 9 bảng dữ liệu và 43 hình. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ LƢU VỰC SÔNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG LÒNG SÔNG 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Sông Sê San là chi lưu lớn của sông Mê Kông bắt nguồn từ Bắc và Trung Tây Nguyên của Việt Nam, sông chảy sang lãnh thổ Campuchia và nhập vào hệ thống sông Serepok.
Sông Sê San có lưu vực rộng 17.000 km2, tổng chiều dài sông chính là 237 km, diện tích lưu vực là 11. Hình 1-1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Kon Tum (nguồn: Sở TN&MT tỉnh Kon Tum) Trên lãnh thổ Việt Nam, phần thượng lưu của sông Sê San gồm chi lưu Pô Kô (phía hữu ngạn) và Đăk Bla (phía tả ngạn) nằm hầu hết trên địa phận tỉnh Kon Tum khu vực Tây Nguyên (hình 1-1). Diện tích tự nhiên của Kon Tum là 9. Kon 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tum có giới hạn lãnh thổ từ 107020’15’’ đến 108032’30’’ kinh độ Đông, từ 130055’15’’ đến 15027’15” vĩ độ Bắc.
Phía Bắc của tỉnh giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia, độ cao trung bình của toàn tỉnh so với mặt nước biển là 500 m. Địa hình, địa mạo Kon Tum nằm ở phía Tây dãy Trường sơn, địa hình dốc, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Khu vực phía Bắc của tỉnh có độ cao trung bình là 1.200 m, nơi đây có đỉnh Ngọc Linh cao nhất Miền Nam (2.596 m) và là nơi bắt nguồn của hầu hết sông suối trong vùng như Sông Tranh, Sông Cái, sông Sê San, Sông Ba.598 m Hình 1-2: Mô hình không gian 3 chiều độ cao tỉnh Kon Tum Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng gồm vùng đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau. Trong đó: - Địa hình đồi, núi: Chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những ngọn núi lớn (ngọn Bon San (1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.066 m)) và những núi liền dải có độ dốc lớn, địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc - Tây Bắc, mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng h p, khe, suối.
Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía Tây và thấp dần về phía Tây Nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray. - Địa hình cao nguyên: Kon Tum có cao nguyên Konplong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Địa hình thung lũng: Nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía Nam của tỉnh là dạng thung lũng lòng máng thuộc huyện Sa Thầy, dọc theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum, các thung lũng này được hình thành giữa những dãy núi kéo dài về phía Đông chạy dọc biên giới Việt Nam – Campuchia. Địa chất, lớp phủ thực vật Qua tổng quan các công trình công bố trong khu vực, cho phép khái quát về hai nội dung trên như sau: Nền địa chất khu vực nghiên cứu được đặc trưng bằng hai lớp bao gồm: Lớp đá móng là các đá kết tinh; lớp phủ trầm tích, chủ yếu là các đá bở rời là sản phẩm phong hóa và bồi tích của lòng sông.
Các thành tạo này phân bố chủ yếu hai bên bờ sông Pô Kô, ngược lại, hai bên bờ sông Đăk Bla chủ yếu là các thành tạo đá gốc ngoại trừ vùng hạ lưu trước đập. Thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu được phân bổ theo độ cao. Phần sườn thung lũng, thảm thực vật là cây bụi, rừng bị chặt phá với diện tích lớn, không còn rừng nguyên sinh, đa số đá móng kết lộ ra, không để cây cối phát triển. Trong khi đó, ở khu vực lòng sông, thảm thực chủ yếu là cây nông nghiệp và cây bụi.
Đặc điểm khí hậu Đặc điểm khí hậu trong khu vực có nghĩa quan trọng không chỉ luận giải về chất lượng ảnh viễn thám mà còn là cơ sở để luận giải về biến động lòng liên quan đến chu kỳ thời thiết ở khu vực. Khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 22 đến 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày từ 8 đến 90C. Kon Tum có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm, lượng mưa trung bình toàn tỉnh khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8, hướng gió chủ yếu của mùa khô là Đông Bắc, hướng gió chủ yếu của mùa mưa là Tây Nam, độ ẩm trung bình hàng năm của tỉnh Kon Tum dao động trong khoảng 78 - 87%, độ ẩm không khí tháng cao nhất vào tháng 8 và tháng 9 (khoảng 90%), thấp nhất vào tháng 3 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Những thông tin về độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng ở Kon Tum qua một số năm được giới thiệu ở bảng 1-1 dưới đây: Bảng 1-1: Số liệu về độ ẩm, lƣợng mƣa, số giờ nắng ở Kom Tum một số năm [3] Stt Hạng mục Đơn 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 vị o 1 Nhiệt độ C 22,9 23,4 23,6 23,6 23,3 23,6 24,9 23,9 2 Độ ẩm % 82,4 79,0 79,3 77,0 78,7 79,8 75,3 75,5 3 Lượng mưa mm 2.520 4 Số giờ nắng giờ 2.285 Ở Kon Tum, thời tiết nắng nóng của mùa khô (đặc biệt vào cuối mùa) thường làm hạn chế và gây thiếu nước, còn vào tháng 7, 8, lượng mưa tập trung với cường độ cao nên thường xẩy ra lũ lụt làm ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, sản xuất và đời sống dân sinh trên địa bàn, đặc biệt, làm thay đổi hình thái các lòng sông. Chế độ thủy văn Giống như chế độ khí hậu, chế độ thủy văn ở Kon Tum cũng chia là hai mùa rõ rệt: mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc trong tháng 11 hàng năm, mùa cạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Mặc dù thời gian mùa lũ thường ngắn hơn mùa cạn nhưng lượng dòng chảy mua lũ ở tỉnh lại chiếm đa số (khoảng 70 – 75% trong hơn 10 tỷ m3 mà các sông chuyên chở hàng năm). Trung bình mỗi năm trên các sông suối ở Kon Tum có khoảng từ 4 – 6 trận lũ, một phần ba trong đó là lũ trung bình đến lũ lớn.
Mùa cạn, lượng dòng chảy trong 3 tháng kiệt nhất chỉ chiếm từ 3 – 5% lượng dòng chảy năm gây ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô. Các đặc trưng dòng chảy năm hệ thống sông Sê San được trình bày ở bảng 1-2 dưới đây: Bảng 1-2: Đặc trƣng dòng chảy năm hệ thống sông Sê San [1] Diện tích lƣu Mo Stt Tuyến sông Qo (m3/s) Wo (109m3) vực (km2) (l/s/km2) 1 Sông Đăk Bla 3.050 32,3 98,5 3,11 2 Sông Pô Kô 3.530 35,7 126 3,97 3 Sông Sê San 11.659 35,6 273 8,61 6 Sông Đăk Cấm 154 23,2 3,6 0,11 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong từng năm, dòng chảy phân làm 2 mùa rõ rệt. Trên lưu vực sông Pô Kô, mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 10. Trên lưu vực sông Đăk Bla mùa lũ muộn hơn, thường bắt đầu vào tháng 8 và có thể kéo dài đến tháng 11.
Đặc trƣng hình thái tự nhiên của các chi lƣu khu vực nghiên cứu Qua phân tích bản đồ địa hình gắn với hệ thống sông trong khu vực nghiên cứu, có thể đưa ra một số kết luận sơ bộ sau về đặc điểm địa hình, địa mạo và hình thái hai chi lưu Đăk Bla và Pô Kô thuộc thượng lưu sông Sê San: Hình 1-3: Các lƣu vực sông chính trên địa bàn tỉnh Kon Tum [8] - Sông Đăk Bla: là nhánh trái của sông Sê san, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh, khu vực được đặc trưng bằng địa hình ít phân dị. Độ cao đầu nguồn sông là 1.650 m, và tại vị trí hợp lưu vào Sê San, có độ cao là 1. Sông tương đối trẻ và thường đi với động lực dòng lớn do đặc điểm của địa hình đồi núi h p ở phần thượng lưu của sông. Do chảy trên vùng núi cao nên ở đoạn thượng lưu sông tương đối thẳng, trong lòng h p, dòng chảy theo hướng từ bắc xuống nam, có chiều dài khoảng 74 km và độ dốc 1,7%.
Từ trung lưu tới đoạn hợp lưu với sông Pô Kô, sông chảy theo hướng tây trên cao nguyên cổ Kon Tum, địa hình thoải, lòng sông uốn khúc, nhiều ghềnh và thung lũng. Thung lũng có nhiều lòng cũ và bãi bồi, mang nét điển hình của sông đồng bằng, độ dốc khoảng 1,3%, tiết diện sông hình chữ U, động lực dòng giảm. Hình thái sông uốn khúc do dòng nước bị phá hủy theo chiều ngang. Đổ vào sông Đăk Bla có 18 nhánh sông suối chính, có độ dài đa số từ 10 – 70 km.
Mật độ lưới sông Đăk Bla là 0,49 km/km2 với hệ số uốn khúc 2,03; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Sông Pô Kô: bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc linh, có diện tích lưu vực khoảng 3.530 km2, chiều dài 121 km, chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam. Đoạn thượng nguồn sông Sê san dài khoảng 21 km có đặc điểm scủa ông miền núi chảy trong các thung lũng h p dạng hình chữ V với độ dốc khoảng 3,3%. Đoạn trung lưu có độ dốc thoải hơn (khoảng 1,8%), chiều dài 100 km. Ngược lại, với sông Đăk Bla, lưu vực sông nằm ở trung tâm của thung lũng, từ thượng lưu đến hạ lưu không có thay đổi nhiều về độ cao, động lực dòng vừa phải.
Địa hình lưu vực sông có thể chia thành 4 dạng: Địa hình vùng núi cao, địa hình núi cao vừa, địa hình cao nguyên, vùng trũng – đồng bằng. Độ rộng của sông ít thay đổi từ thượng lưu xuống hạ lưu. Đặc điểm kinh tế - xã hội 1. Tổ chức hành chính Tỉnh Kon Tum là đơn vị hành chính loại II, toàn tỉnh hiện có 8 huyện, 1 thành phố, 97 xã, phường, thị trấn, trong đó, có 10 xã biên giới giáp Lào và Campuchia với chiều dài biên giới là 280,7 km.