CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ TIÊU CHUẨN ISO 31000:2009 1. Rủi ro tác nghiệp 1. Khái niệm về rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp (RRTN) là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Phân loại rủi ro tác nghiệp 1.
Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng gây nên: là việc cán bộ nhân viên ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được ủy quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép, không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành, không chấp hành nội quy cơ quan, hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với người lao động. Rủi ro do các quy định, quy trình nghiệp vụ: Rủi ro xảy ra khi quy trình nghiệp vụ có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ: - Rủi ro từ hệ thống CNTT: Do dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn hay do thiết kế hệ thống không phù hợp, chương trình hệ thống lỗi thời không hợp lý, sự gián đoạn của hệ thống hoặc do các phần mềm, các chương trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc, không hoạt động. - Rủi ro từ các hệ thống hỗ trợ khác: Do việc chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ chưa kịp thời, chưa hiệu quả hoặc chồng chéo gây khó khăn, ách tắc cho bộ phận nghiệp vụ hoặc do cơ chế, quy chế quản lý về công tác hỗ trợ chưa phù hợp, chưa đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ.
Rủi ro do tác động bên ngoài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài ngân hàng. Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (động đất, lũ lụt, bão.) gây gián đoạn, thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro do các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp Đối với hoạt động Marketing và bán hàng: Ngân hàng rơi vào tình trạng đưa ra các sản phẩm mới mà không đảm bảo cơ sở hạ tầng phù hợp do không áp dụng đúng các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới.
Đối với hoạt động thanh toán: Không thanh toán được theo yêu cầu của khách hàng hoặc thanh toán nhầm đối tượng thụ hưởng. Đối với lĩnh vực CNTT: Mất kiểm soát hệ thống hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động. Đối với hoạt động tài chính: Định giá tài sản sai, các báo cáo lãi lỗ không hoàn chỉnh, các khoản mục kế toán không được đối chiếu. Đối với hoạt động quản lý nhân sự: Hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết thúc hợp đồng lao động.
Đối với uy tín của ngân hàng: Đối xử với khách hàng không tốt dẫn tới mất khách hàng hoặc danh tiếng không tốt về ngân hàng. Quản trị rủi ro tác nghiệp 1. Khái niệm quản trị rủi ro tác nghiệp Quản trị RRTN là quá trình TCTD tiến hành các hoạt động tác động đến RRTN, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản trị RRTN để thực hiện quá trình quản trị rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát RRTN nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục tiêu của quản trị rủi ro tác nghiệp Tìm hiểu mức độ RRTN của hệ thống, của tổ chức, tìm nguyên nhân dẫn đến rủi ro, phân phối nguồn lực hỗ trợ và xác định các khuynh hướng bên ngoài cũng như bên trong giúp dự báo được rủi ro để có giải pháp phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu các chi phí, tổn thất có thể xảy ra từ hoạt động tác nghiệp. Giúp ngân hàng ngăn ngừa sự gian lận, giảm thiểu sai sót trong quá trình giao dịch, duy trì tính chính trực của quyền kiểm soát nội bộ. Nhờ đó cũng giảm vốn dành cho RRTN, tăng thêm nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh và bảo vệ uy tín của ngân hàng, đạt mục tiêu hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả. Nhận diện rủi ro tác nghiệp Nhóm dấu hiệu liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc Rà soát, đánh giá thường xuyên về mô hình tổ chức bộ máy, cơ cấu các bộ phận nghiệp vụ của ngân hàng.
Rà soát, đánh giá công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, phân tích nguyên nhân cán bộ bỏ việc, chấm dứt hợp đồng lao động, đánh giá việc thực hiện các quy định hay thỏa ước lao động, sức khỏe và an toàn lao động. Thu thập, đánh giá cán bộ về trình độ học vấn, chuyên ngành đào tạo, kinh nghiệm làm việc, kết quả thực hiện công việc, tuân thủ chấp hành các quy định. Nhóm dấu hiệu liên quan đến chính sách, quy định nội bộ Quy định chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, có kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. Những văn bản, quy định có sự chồng chéo, hoặc không thể thực hiện, những bất hợp lý gây khó khăn cho người thực hiện hay những văn bản, quy định có nội dung chưa đúng với quy định của pháp luật hiện hành.
Nhóm dấu hiệu liên quan đến gian lận nội bộ Cán bộ tự thực hiện hoặc cấu kết với khách hàng để thực hiện những hoạt động phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, hủy hoại uy tín của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nhóm dấu hiệu liên quan đến gian lận bên ngoài Các hành động có ý định gian lận, lừa đảo của khách hàng hoặc các đối tượng bên ngoài khác. Nhóm dấu hiệu liên quan đến quá trình xử lý công việc Các lỗi, sai sót phát sinh trong quá trình xử lý công việc của tất cả các bộ phận. Nhóm dấu hiệu liên quan đến hệ thống CNTT Việc ngân hàng theo dõi sự hoạt động của hệ thống, thống kê đầy đủ các lỗi, sai sót, các sự cố của hệ thống CNTT làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Nhóm dấu hiệu liên quan đến thiệt hại tài sản Việc ngân hàng xem xét, đánh giá khả năng xảy ra các rủi ro như: phá hoại, khủng bố, thiên tai, động đất, bão lũ, hỏa hoạn. Đo lường rủi ro tác nghiệp Có hai phương pháp đo lường thường được sử dụng là phương pháp định tính và phương pháp định lượng. - Phương pháp định tính: Là việc phân tích đánh giá, nhận xét chủ quan của mỗi NHTM về mức độ, tính nghiêm trọng của các dấu hiệu rủi ro đã được xác định. Phương pháp định tính được sử dụng để đo lường các rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức cán bộ và an toàn nơi làm việc, liên quan đến chính sách và các quy trình nội bộ.
- Phương pháp định lượng: Là việc đánh giá bằng số liệu cụ thể về mức độ rủi ro (xác suất xảy ra), tổn thất cụ thể của từng loại dấu hiệu rủi ro đã được xác định. Phương pháp này chủ yếu dựa vào số liệu thống kê của ngân hàng và được sử dụng để đo lường RRTN liên quan đến các lĩnh vực như hệ thống thông tin, các gian lận nội bộ hoặc bên ngoài. Phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro tác nghiệp 1. Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa rủi ro tác nghiệp Nội dung của phương án phòng ngừa, giảm thiểu RRTN bao gồm: - Ban hành, sửa đổi, bổ sung chính sách, quy trình nghiệp vụ phù hợp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ. - Kế hoạch đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ. - Kế hoạch sửa chữa, khắc phục sai sót. - Các hành động phòng tránh rủi ro hoặc dừng hoạt động có thể gây ra rủi ro.
- Rà soát, chỉnh sửa, ban hành bổ sung các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm trong quá trình tác nghiệp. - Mua bảo hiểm hoặc thực hiện các biện pháp khác để giảm thiểu rủi ro. - Kế hoạch phân bổ vốn để phòng ngừa RRTN. Báo cáo rủi ro tác nghiệp Ban điều hành quản trị RRTN phải đảm bảo rằng các thông tin quản trị rủi ro sẽ được thể hiện bằng hệ thống các báo cáo, được lập một cách kịp thời bởi những người có trách nhiệm.
Nội dung báo cáo gồm các thông tin sau: RRTN nghiêm trọng gặp phải; những sự cố và hậu quả rủi ro cùng với những dự tính để khắc phục; sự hiệu quả của những hành động được đề ra; các chi tiết của kế hoạch hình thành chuẩn bị để ghi nhận bất kỳ rủi ro nào khi phát sinh; các khu vực áp lực, nơi thể hiện RRTN sắp xảy ra và từng bước kiểm soát RRTN. Kiểm soát rủi ro tác nghiệp Mục tiêu của kiểm soát RRTN nhằm: - Phát hiện sớm các rủi ro chưa được phát hiện, chưa được kiểm soát. - Đánh giá tốt hơn khả năng chấp nhận rủi ro đã được phát hiện. - Xây dựng các biện pháp kiểm soát thay thế có hiệu quả hơn đối với các rủi ro không thể chấp nhận.
- Triển khai sớm hơn và tốt hơn các hành động nhằm giảm nhẹ rủi ro và các biện pháp để tránh tổn thất. Tiêu chuẩn ISO 31000:2009 1. Đối tượng áp dụng Những người chịu trách nhiệm cho việc phát triển chính sách quản trị rủi ro trong tổ chức; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Những người cần đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro trong tổ chức. Phạm vi - Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng bởi bất kỳ doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hay cộng đồng, hiệp hội, nhóm hoặc cá nhân nào.
Vì vậy, tiêu chuẩn này không cụ thể cho bất kỳ ngành công nghiệp hoặc khu vực nào. Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng trong suốt thời gian tồn tại của một tổ chức. - Mặc dù tiêu chuẩn này cung cấp các hướng dẫn tổng quát nhưng không có nghĩa là đều thống nhất chung cho các tổ chức khác nhau.