đặt vấn đề; giới hạn và phạm vi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; các câu hỏi nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và lƣợc khảo các nghiên cứu. Nội dung gồm: Cơ sở lý thuyết về vốn và tín dụng, lƣợc khảo các tài liệu có liên quan. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng.
Nội dung gồm: Giới thiệu phƣơng pháp nghiên cứu và mô hình hồi qui áp dụng. Chƣơng 4: Kết quả của nghiên cứu. Nội dung gồm: trình bày các kết quả ƣớc lƣợng tác động của các yếu tố trên lên mức sống hộ gia đình. Chƣơng 5: Kết luận và các gợi ý chính sách.
Nội dung gồm: phần tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu và nêu các gợi ý về mặt chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về vốn và tín dụng 2.1 Vai trò của vốn trong sản xuất, mối quan hệ giữa vốn và thu nhập Mô hình Park S. S (1992)5 cũng chia quá trình phát triển nông nghiệp qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển, sản lƣợng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Giai đoạn sơ khai: sản lƣợng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên nhƣ đất đai, thời tiết khí hậu và lao động.
Giai đoạn đang phát triển: ngoài các yếu tố của giai đoạn sơ khai, sản lƣợng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào từ khu vực công nghiệp. Giai đoạn phát triển: bên cạnh các yếu tố của giai đoạn trƣớc, tăng trƣởng nông nghiệp còn phụ thuộc vào vốn sản xuất nông nghiệp, vốn trở thành yếu tố chính thúc đẩy tăng năng suất và thu nhập trên lao động. Năng suất lao động Thu nhập trên lao động F1 I2 y2 I1 y1 F2 K1 K2 Vốn sản xuất (K) L2 L1 Lao động (L) nh 2.1 Năng suất lao động và thu nhập của lao động nông nghiệp Nguồn: Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Dy, 2010 6 Tƣơng tự, mô hình Tornado (1990)7 cho rằng phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn từ thấp đến cao. Giai đoạn 1: nền sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất chƣa đa dạng, đất và lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tƣ vốn còn thấp.
Giai đoạn 2: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng đa dạng hóa, sản lƣợng gia tăng từ nâng cao năng suất lao động, sản xuất hƣớng tới thị trƣờng. Giai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 đoạn 3: nông nghiệp hiện đại, sản xuất theo hƣớng thƣơng mại cao, vốn và công nghệ trở thành yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lƣợng nông nghiệp. Tác động của vốn theo hàm sản xuất Cobb-Douglas Hàm sản xuất Cobb-Douglas chỉ ra rằng trong hoạt động sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng có dạng: Y = ALαKβ [2.1] Trong đó: Y = Sản lƣợng đầu ra (lợi tức, thu nhập); L = số lƣợng lao động đầu vào; K = lƣợng vốn; A = công nghệ sản xuất (hay năng suất toàn bộ nhân tố); α và β là các hệ số co dãn theo sản lƣợng lần lƣợt của lao động và vốn. Theo đó, nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô, nghĩa là dù lao động và vốn có tăng thêm 20% mỗi thứ thì sản lƣợng cũng chỉ tăng thêm đúng 20%; nếu α + β < 1 thì thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô; còn nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô.
Sản xuất phát triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng các yếu tố này. Từ đây, có thể thấy rằng việc đƣa vào yếu tố vốn có thể giúp gia tăng sản lƣợng đầu ra (cho đến khi năng suất biên của vốn bằng 0). Sử dụng số liệu từ 1986-2006 của Việt Nam, Đinh Phi Hổ (2003- 3) đã sử dụng mô hình này để ƣớc lƣợng tác động của vốn đối với tăng trƣởng nông nghiệp, kết quả ƣớc lƣợng các hệ số co giãn α và β lần lƣợt là 0,345 và 0,523; điều này cho thấy ở Việt Nam yếu tố vốn và lao động ảnh hƣởng đến tăng trƣởng nông nghiệp8. Trong điều kiện nông thôn ĐBSCL hiện nay đang chịu sức hút lao động mạnh của các đô thị công nghiệp nhƣ TpHCM, Bình Dƣơng, Đồng Nai.
thì việc gia tăng lao động sẽ có hạn chế nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn, do đó việc gia tăng các yếu tố vốn là cần thiết. Theo kết quả nghiên cứu trên thì tăng 1% yếu tố vốn góp phần tăng 0,523% GDP nông nghiệp (giả định các yếu tố khác không đổi), do đó việc tăng vốn cho nông nghiệp ảnh hƣởng quan trọng đến tăng trƣởng trong nông nghiệp, đặc biệt là đối với ĐBSCL. Từ các mô hình lý thuyết và lý thuyết về hàm sản xuất đều chỉ ra vốn là yếu đầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và sản xuất nói chung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Vai trò của tín dụng chính thức Theo Đinh Phi Hổ (2008)9 thì yếu tố vốn trong nông nghiệp đƣợc hình thành chủ yếu từ ba nguồn: (1) Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp; (2) Vốn đầu tƣ của ngân sách; (3) Vốn tín dụng nông thôn.
Tín dụng nông thôn bao gồm tín dụng chính thức và không chính thức. Theo Khander (2001)10, cả tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức đóng vai trò quan trọng trên thị trƣờng tín dụng nông thôn. Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức khó tạo ra sự phát triển vì: (1) chi phí đắt (lãi cao), (2) sử dụng trong ngắn hạn và thƣờng sử dụng cho tiêu dùng, (3) nó không đủ lớn để tài trợ cho đầu tƣ và phát triển. Vốn tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó tín dụng chính thức là lý tƣởng nhất cho phát triển nông thôn và giảm nghèo.
Tín dụng chính thức là những khoản tín dụng đƣợc cung cấp bởi các định chế tài chính chính thức. Theo Đinh Phi Hổ (2008)11 định chế tài chính chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nƣớc, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế theo qui định cho nhà nƣớc. Ở Việt Nam, hệ thống định chế này gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, các Hợp tác xã tín dụng, các Quỹ tín dụng nhân dân, các ngân hàng thƣơng mại và ngân hàng cổ phần nông thôn. Mặc dù, quan điểm về vai trò của tín dụng chính thức và không chính thức vẫn còn khác nhau giữa các nhà kinh tế.
Tuy nhiên các nhà kinh tế học đều nhìn nhận rằng cả khu vực chính thức và không chính thức đồng tồn tại, hệ thống định chế thuộc khu vực chính thức là cần thiết và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế12.2 Lƣợc khảo các nghiên cứu trƣớc đây về tác động của tín dụng Đánh giá tác động của tín dụng là một đề tài thú vị trong nghiên cứu trong những năm gần đây. Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của tín dụng, đặc biệt là đối với tín dụng vi mô lên đời sống ngƣời dân, phần lớn là đối với ngƣời nghèo. Có thể đánh giá sự đa dạng trong nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng, tín dụng vi mô trong nghiên cứu của Jonathan Morduch (2002). Nghiên cứu của Morduch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 chỉ ra rằng có nhiều các bằng chứng cho rằng tín dụng vi mô có vai trò tích tực đối với giảm nghèo và có liên hệ tích cực với 6 trong 7 mục tiêu thiên niên kỷ.
Cụ thể hơn, nghiên cứu này chỉ ra rằng tín dụng vi mô có tác động bình ổn và gia tăng thu nhập; nhƣng có ít bằng chứng cho rằng tín dụng có vai trò tích cực trong chăm sóc sức khỏe, cải thiện dinh dƣỡng, hay tăng tỉ lệ đến trƣờng. Trƣớc đó, Pitt và Khandker (1998) sử dụng phƣơng pháp phân tích tác động cố định bằng dữ liệu chéo để cách đo lƣờng tác động đến đời sống gia đình kết hợp các biến độc lập nhƣ: nguồn cung lao động, tài sản sở hữu hộ, khả năng sinh sản và biện pháp ngừa thai.; kết quả cho thấy tín dụng vi mô có tác động tích cực lên đời sống hộ gia đình, đặc biệt là đối với phụ nữ ở Bangladesh. Cũng ở Bangladesh, Khandker (2001) nghiên cứu tác động của tín dụng đã sử dụng đánh giá tác động thu nhập biên của các biến: tổng thu nhập hàng năm của hộ gia đình, tổng chi từ sản xuất trên đất của hộ, tổng thu ròng từ sản xuất trên đất, tài sản ngoài đất, số giờ làm việc của lao động…; kết quả cũng cho thấy tín dụng có tác động tích cực lên đời sống ngƣời dân. Tuy nhiên một nghiên cứu khác cũng tại Bangladesh của Morduch (1998) đã sử dụng phƣơng pháp DID để đánh giá tác động, kết quả cho thấy tác động của các khoản tín dụng vi mô là nhỏ hay không có ý nghĩa thống kê.
Coleman (2002), trong nghiên cứu tại Thái Lan đã đánh giá tác động của các khoản tín dụng vi mô lên đời sống gia đình. Tác giả đã đo lƣờng tác động của các ngân hàng làng lên đời sống hộ gia đình. Nghiên cứu này sử dụng 19 biến độc lập nhƣ: số tháng ngân hàng có tại làng, số tháng kể từ khi tham gia vay, giá trị đất do nam, nữ sở hữu, nữ là chủ hộ, số năm đi học của nam và nữ,. kết hợp để hồi qui đánh giá tác động lên đời sống hộ gia đình với 72 biến phụ thuộc chia làm 4 nhóm: tài sản hữu hình, tiết kiệm - nợ và các khoản cho vay, sản xuất - buôn bán- chi tiêu và lao động, chăm sóc sức khỏe và giáo dục.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của các ngân hàng ở làng có tác động tích cực lên tài sản của những hộ tham gia vay vốn, đặc biệt là đối với phụ nữ. Tín dụng vi mô cũng tác động tích cực lên tiết kiệm, tăng các khoản cho vay mƣợn (cho ngƣời khác vay lại). Các khoản vay này cũng có tác động tích cực lên việc bán các sản phẩm tự làm và chi tiêu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 các hộ vay vốn. Nó cũng có tác động tích cực lên các hoạt động sản xuất nông nghiệp và tăng thời gian tự làm việc ngƣời dân.
Tuy nhiên, tác động đối với chi tiêu chăm sóc sức khỏe và giáo dục (đi học) thì không có ý nghĩa thống kê.