Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp (FII) và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào Việt Nam ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ. Đi kèm với các dòng vốn này là sự mở rộng quy mô hoạt động của các nhà thầu nước ngoài (NTNN) trong nhiều lĩnh vực then chốt. Nguồn thu từ thuế NTNN đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách Nhà nước, với quy mô toàn quốc năm 2011 ước đạt gần 13.000 tỷ đồng. Tại các địa phương có hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, số thu thuế NTNN năm 2011 đạt khoảng 2.000 tỷ đồng, chiếm tới 9% tổng thu ngân sách trên địa bàn nếu không tính dầu thô. Xét trên bình diện cả nước, tỷ trọng thu thuế NTNN trong tổng thu nội địa đã tăng liên tục từ 2,78% năm 2008 lên 2,92% năm 2009 và chạm mốc 4,55% vào năm 2010.

Mặc dù giữ vị thế trọng yếu, cơ chế quản lý và chính sách thuế NTNN khởi điểm từ năm 1991 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa bao quát hết các mô hình kinh doanh phức tạp và thiếu sự đồng bộ với tiến trình cải cách thuế giai đoạn 2011 - 2020. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Phân tích thực trạng thực thi, nhận diện các rào cản pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách thuế NTNN tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu toàn quốc giai đoạn 2005 - 2011, trọng tâm tại ba đầu tàu kinh tế gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược nhằm thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống thất thu ngân sách và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thu hút dòng vốn quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết Tài chính công hiện đại kết hợp lý thuyết Phân tích chính sách thuế để luận giải nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh không cư trú. Trọng tâm lý luận dựa trên nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ, khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia đối với mọi hành vi phát sinh thu nhập bên trong biên giới. Về thuế quốc tế, đề tài đối chiếu hai khung mẫu Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: Mô hình của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vốn bảo vệ quyền lợi của các nước xuất khẩu tư bản, và Mô hình của Liên Hợp Quốc (UN) ưu tiên quyền thu thuế tại nguồn cho các nước đang phát triển tiếp nhận đầu tư.

Hệ thống nghiên cứu làm rõ bốn khái niệm cốt lõi:

  • Nhà thầu nước ngoài: Tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng ký kết nhưng không thành lập pháp nhân độc lập.
  • Cơ sở thường trú: Địa điểm kinh doanh cố định mà thông qua đó NTNN thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động sinh lợi.
  • Thuế khấu trừ tại nguồn: Cơ chế thu thuế trực tiếp từ tổ chức chi trả thu nhập trong nước trước khi chuyển tiền ra nước ngoài.
  • Cơ chế phân tách thuế trực thu và thuế gián thu: Tách bạch nghĩa vụ thuế Giá trị gia tăng (GTGT) theo mức tiêu dùng nội địa và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu từ 0,1% đến 5% tùy ngành nghề.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm quốc tế như Malaysia áp dụng khấu trừ 10% giá trị hợp đồng dịch vụ và Singapore áp thuế 15% trên lãi tiền vay nhằm xây dựng chuẩn mực quản lý phù hợp cho Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp thống kê lịch sử và phương pháp phân tích so sánh chuẩn mực để đánh giá dữ liệu. Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong mốc thời gian 2005 - 2011. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ số liệu thu ngân sách của 63 tỉnh thành trên toàn quốc năm 2010, kết hợp khảo sát chuyên sâu 14 văn bản quy phạm pháp luật ban hành từ năm 1991 đến Thông tư 134/2008/TT-BTC và Thông tư 197/2009/TT-BTC. Đồng thời, nghiên cứu phân tích mẫu điển hình tại 8 quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển hoặc tương đồng về thể chế gồm Nhật Bản, Vương quốc Anh, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại ba địa bàn trọng điểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa - Vũng Tàu) được lựa chọn vì nhóm này chiếm trên 70% tổng vốn FDI đăng ký cả nước, phản ánh chính xác nhất bản chất vận động của dòng thuế NTNN. Việc kết hợp chuỗi dữ liệu định lượng 6 năm với phân tích so sánh văn bản luật giúp nhận diện chính xác các kẽ hở quản lý, bảo đảm tính khách quan và khoa học cho các đề xuất hoàn thiện chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng quy mô thu ngân sách từ thuế NTNN diễn ra vượt bậc, khẳng định vai trò là nguồn lực tài chính không thể thiếu. Tỷ trọng số thu thuế NTNN so với tổng thu nội địa (không kể dầu thô) tăng mạnh từ 2,78% năm 2008 lên 2,92% năm 2009 và đạt 4,55% vào năm 2010. Trên bảng tổng sắp nguồn thu năm 2010, chỉ có 8 trên tổng số 63 tỉnh thành có tổng thu ngân sách địa phương vượt qua được tổng số thu từ thuế NTNN toàn quốc.

Thứ hai, mức độ tập trung của nguồn thu thuế NTNN phân bổ theo mật độ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tính đến ngày 15/12/2009, Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 3.140 dự án FDI và tổng vốn đăng ký đạt 27,21 tỷ USD (vốn điều lệ 9,73 tỷ USD); Bà Rịa - Vũng Tàu xếp thứ hai với 211 dự án có tổng vốn 23,64 tỷ USD; Hà Nội xếp thứ ba với 1.644 dự án đạt 19,47 tỷ USD. Tương ứng với quy mô vốn, ba địa phương này luôn đóng góp trên 65% tổng số thu thuế NTNN của cả nước.

Thứ ba, cơ chế hành thu bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các phương pháp nộp thuế. Hơn 90% số lượng NTNN thực hiện nộp thuế theo phương pháp trực tiếp (bên Việt Nam khấu trừ nộp thay theo tỷ lệ % ấn định), trong khi phương pháp kê khai toàn diện chỉ chiếm dưới 10%. Rào cản lớn nhất nằm ở điều kiện bắt buộc áp dụng Chế độ Kế toán Việt Nam và yêu cầu thời hạn hợp đồng phải từ 183 ngày trở lên.

Thứ tư, tính pháp lý của chính sách thuế NTNN tại Việt Nam còn thấp và manh mún. Trải qua 14 lần ban hành văn bản quy phạm từ năm 1991 đến năm 2009, hệ thống điều chỉnh thuế NTNN chỉ dừng lại ở cấp Thông tư của Bộ Tài chính, chưa được luật hóa thành một chương mục độc lập trong Luật Quản lý thuế hay các sắc thuế chuyên ngành.

Dữ liệu nghiên cứu được chuẩn hóa qua bảng so sánh biểu thuế suất 8 quốc gia và biểu đồ phân bổ nguồn thu giai đoạn 2005 - 2011, phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển dòng tiền và cơ cấu thuế suất ấn định.

TỔNG THU THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2008 - 2011
-----------------------------------------------------------------------
Năm              Tỷ trọng / Thu nội địa (%)      Dự toán / Thực thu
-----------------------------------------------------------------------
2008                      2,78%                  Gia tăng ổn định
2009                      2,92%                  Tăng trưởng khá
2010                      4,55%                  Bứt phá mạnh
2011 (Dự kiến)            > 5,00%                Ước đạt 13.000 tỷ VNĐ
-----------------------------------------------------------------------

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc quá lớn vào phương pháp khấu trừ tại nguồn cho thấy sự thuận tiện trong ngắn hạn của cơ quan quản lý nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt chính sách. Việc chuyển toàn bộ trách nhiệm kê khai, nộp thuế và chịu chế tài xử phạt sang bên Việt Nam vô hình trung tạo ra sự thiếu minh bạch trong các hợp đồng trọn gói (Net Contract). Nhà thầu nước ngoài thường đàm phán giá không bao gồm thuế, đẩy toàn bộ gánh nặng chi phí phát sinh cho đối tác trong nước gánh chịu.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Nhật Bản sử dụng cơ chế tự khai tự nộp kết hợp công nghệ thông tin hiện đại với 80% lực lượng cán bộ chuyên trách thanh tra, kiểm tra; Trung Quốc quy định thuế TNDN 25% cho cơ sở thường trú và phân định rõ thu nhập nội địa - toàn cầu; còn Malaysia quy định bên chi trả phải nộp thuế khấu trừ trong vòng một tháng kèm chứng từ nghiêm ngặt. Việc Việt Nam thiếu vắng các quy định cụ thể về quản lý hợp đồng tổng thầu EPC (Thiết kế - Cung cấp thiết bị - Xây dựng) và các dịch vụ xuyên biên giới qua Internet đã tạo kẽ hở cho hành vi chuyển giá, chuyển dịch lợi nhuận ra nước ngoài, làm xói mòn cơ sở tính thuế quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với NTNN, đáp ứng chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 - 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Nâng cấp tầng bậc pháp lý: Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định riêng biệt về quản lý thuế NTNN, tiến tới luật hóa các điều khoản quản lý thu tại nguồn vào Luật Quản lý thuế và Luật Thuế TNDN sửa đổi. Lộ trình hoàn thành trong giai đoạn 2012 - 2015 nhằm bảo đảm tính pháp lý cao nhất cho công tác hành thu.
  • Tái cấu trúc điều kiện nộp thuế và cơ sở thường trú: Tổng cục Thuế sửa đổi quy chế xác định cơ sở thường trú theo sát Khung mẫu của Liên Hợp Quốc (UN Model), nới lỏng điều kiện áp dụng phương pháp kê khai kết hợp khấu trừ. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhà thầu áp dụng chế độ kê khai minh bạch từ dưới 10% lên 25 - 30% vào năm 2016, giảm tỷ lệ tranh chấp thuế quốc tế ít nhất 20%.
  • Hiện đại hóa quy trình hành thu điện tử: Tổng cục Thuế triển khai cổng thông tin đăng ký mã số thuế và kê khai trực tuyến cho 100% NTNN và tổ chức chi trả thu nhập trong nước. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro tự động, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hoàn thuế, miễn giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần từ 30 ngày xuống dưới 10 ngày làm việc trong giai đoạn 2011 - 2015.
  • Tăng cường kiểm soát chuyển giá và hợp đồng EPC: Thanh tra Tổng cục Thuế phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Hải quan thiết lập cơ chế kiểm soát dòng tiền chuyển ra nước ngoài, bắt buộc bóc tách giá trị máy móc nhập khẩu và giá trị dịch vụ lắp đặt trong các hợp đồng tổng thầu EPC. Mục tiêu giảm thiểu thất thu thuế từ các gói thầu lớn khoảng 15 - 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh thành): Sử dụng làm tài liệu tham chiếu khoa học để rà soát, sửa đổi các Thông tư hướng dẫn thuế NTNN, chuẩn bị cơ sở dữ liệu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020.
  • Doanh nghiệp trong nước tham gia ký kết hợp đồng thầu quốc tế: Cung cấp cẩm nang thực hành để nhận diện đúng nghĩa vụ thuế GTGT và TNDN, hỗ trợ quá trình đàm phán hợp đồng thương mại (điều khoản Gross/Net), giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro bị truy thu và phạt chậm nộp thuế.
  • Nhà thầu nước ngoài và các tổ chức tư vấn thuế, kiểm toán quốc tế: Nắm bắt chi tiết các điều kiện xác định cơ sở thường trú, cách thức áp dụng tỷ lệ thuế ấn định theo Thông tư 134/2008/TT-BTC và quy trình khấu trừ thuế tại nguồn, hỗ trợ lập kế hoạch tài chính tối ưu khi hoạt động tại thị trường Việt Nam.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học khối ngành Kinh tế - Tài chính: Khai thác nguồn tài liệu học thuật giá trị về hệ thống thuế đối ngoại, phương pháp luận nghiên cứu định tính kết hợp dữ liệu thống kê của 63 tỉnh thành và bài học kinh nghiệm từ 8 quốc gia trên thế giới.

Câu hỏi thường gặp

Thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam bao gồm những sắc thuế nào?
Thuế NTNN không phải là một sắc thuế độc lập mà là cơ chế thu gom nghĩa vụ thuế đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không thành lập pháp nhân tại Việt Nam. Hai sắc thuế cơ bản cấu thành là thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu theo mức độ tiêu dùng dịch vụ trong nước) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (thuế trực thu tính theo tỷ lệ ấn định từ 0,1% đến 5% trên doanh thu theo Thông tư 134/2008/TT-BTC).

Nhà thầu nước ngoài cần thỏa mãn những điều kiện gì để được nộp thuế theo phương pháp kê khai?
Căn cứ quy định tại Thông tư 134/2008/TT-BTC, NTNN muốn nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí phải đáp ứng đồng thời 3 tiêu chuẩn: Có cơ sở thường trú hoặc là đối tượng cư trú tại Việt Nam; thời hạn kinh doanh theo hợp đồng từ 183 ngày trở lên; và thực hiện đầy đủ Chế độ Kế toán Việt Nam.

Vì sao số thu thuế NTNN lại tập trung phần lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bà Rịa - Vũng Tàu?
Số thu thuế NTNN tỷ lệ thuận với quy mô vốn FDI và các dự án kỹ thuật quy mô lớn. Ba địa phương này chiếm trên 70% tổng vốn FDI đăng ký cả nước (Thành phố Hồ Chí Minh đạt 27,21 tỷ USD, Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 23,64 tỷ USD với các tổ hợp dầu khí, cảng biển). Do đó, khối lượng hợp đồng dịch vụ kỹ thuật, thuê thiết bị và tổng thầu xây dựng phát sinh tập trung cao nhất tại đây.

Quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA) được ưu tiên áp dụng so với luật thuế trong nước như thế nào?
Theo thông lệ quốc tế và nguyên tắc pháp lý, các điều khoản tại Hiệp định DTA mà Việt Nam ký kết với hơn 50 quốc gia luôn có giá trị pháp lý ưu tiên so với văn bản pháp luật nội địa. Hiệp định chỉ điều chỉnh đối với các loại thuế thu nhập, không áp dụng cho thuế gián thu (như thuế GTGT), và không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới nặng hơn quy định nội luật.

Vì sao chính sách thuế NTNN tại Việt Nam trước năm 2011 lại bộc lộ nhiều kẽ hở gây thất thu ngân sách?
Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống chính sách chỉ dừng ở cấp Thông tư và áp dụng phương pháp khấu trừ tỷ lệ ấn định trên 90% trường hợp. Cơ chế này chưa bao quát được các giao dịch kinh tế phức tạp như chuyển nhượng vốn gián tiếp, thương mại điện tử xuyên biên giới và hợp đồng EPC, khiến cơ quan thuế khó kiểm soát doanh thu thực tế của nhà thầu.

Kết luận

  • Thuế NTNN là nguồn thu ngân sách quan trọng, đóng góp 4,55% tổng thu nội địa năm 2010 và đạt quy mô gần 13.000 tỷ đồng vào năm 2011.
  • Nguồn thu thuế phân bổ tập trung chủ yếu tại các trung tâm thu hút vốn FDI hàng đầu như Thành phố Hồ Chí Minh (27,21 tỷ USD vốn FDI), Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Nội.
  • Phương thức thu thuế dựa trên tỷ lệ ấn định trực tiếp chiếm trên 90% giao dịch, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào phương pháp khấu trừ tại nguồn.
  • Hệ thống văn bản quy phạm trải qua 14 lần điều chỉnh từ năm 1991 đến 2009 nhưng vẫn tồn tại hạn chế do chỉ dừng lại ở cấp Thông tư hướng dẫn.
  • Mô hình quản lý thuế quốc tế từ 8 quốc gia cung cấp bài học giá trị về tin học hóa, thanh tra chuyên sâu và kiểm soát chặt chẽ cơ sở thường trú.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành chính sách thuế NTNN tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi 2005 - 2011, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế cần tháo gỡ. Để hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược cải cách hệ thống thuế 2011 - 2020, các cơ quan chức năng cần khẩn trương luật hóa chính sách thuế NTNN, hoàn thiện công cụ quản lý điện tử và tăng cường cơ chế kiểm tra liên ngành. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác các bảng biểu số liệu chi tiết và luận cứ chuyên sâu trong toàn văn công trình nghiên cứu.