phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc chia thành 4 chƣơng: 2 Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nƣớc; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nƣớc; Chƣơng 4: Giải pháp và khuyến nghị 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc hoàn thiện quy trình kiểm toán tài chính nói chung và kiểm toán Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp nhà nƣớc nói riêng nhƣng, chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này. Các công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện ở cấp độ cả luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ đã nghiên cứu tại KTNN hay những công ty kiểm toán độc lập lớn ở trong nƣớc, cụ thể một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: Đề tài nghiên cứu “Kiểm toán Báo cáo tài chính các Doanh nghiệp nhà nước do KTNN thực hiện” (Nguyễn Thu Hà, 2013). Đề tài đã làm rõ những vấn đề liên quan đến quy trình kiểm toán BCTC các DNNN cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Đề tài đã giúp ngƣời đọc hiểu đƣợc các bƣớc trong quy trình từ lập KHKT đến thực hiện kiểm toán, tiến hành lập BCKT và cuối cùng là bƣớc kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán. Đề tài đã đi sâu vào quy trình kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp nhƣ sản xuất, xây dựng và thƣơng mại và có ví dụ cụ thể đối với các loại hình này. Chính vì thế, ngƣời đọc hoàn toàn có thể so sánh đƣợc sự khác nhau trong quy trình kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp này. Đề tài cũng đã đề xuất đƣợc những phƣơng hƣớng và giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lƣợng kiểm toán BCTC các DNNN do KTNN nhà nƣớc thực hiện.
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại do Kiểm toán Nhà nước thực hiện” (Đỗ Huy Chí, 2011). Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu chung và phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể. Trong phạm vi Đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng 4 thƣơng mại. Tập trung làm rõ một cách có hệ thống và ngắn gọn về thực trạng Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thƣơng mại do Kiểm toán Nhà nƣớc thực hiện, các ƣu điểm, nhƣợc điểm, các nguyên nhân của những bất cập còn tồn tại từ đó làm căn cứ đƣa ra những giải pháp có tính chất định hƣớng cơ bản để hoàn thiện Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thƣơng mại ở giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán.
Việc hoàn thiện này góp phần nâng cao chất lƣợng của các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thƣơng mại do Kiểm toán Nhà nƣớc thực hiện. “Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính do Kiểm toán Nhà nước thực hiện” (Võ Mai Trang, 2008). Luận văn nghiên cứu kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị dự toán cấp 3, nghiên cứu hoạt động kiểm toán các đơn vị sự nghiệp công lập do Kiểm toán Nhà nƣớc thực hiện. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quy trình kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.
Luận văn đi sâu phân tích, đánh giá và chỉ rõ những ƣu điểm và những hạn chế của quy trình kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của Kiểm toán Nhà nƣớc. Luận văn đã đề xuất những phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nhằm nâng cao chất lƣợng kiểm toán đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính do Kiểm toán Nhà nƣớc thực hiện. “Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị hành chính thực hiện cơ chế khoán chi do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện”(Nguyễn Thị Hải Yến, 2010). Đề tài nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn tạo ra cơ sở khoa học để làm rõ sự 5 cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán chi ngân sách đối với đơn vị hành chính thực hiện cơ chế khoán chi, đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán nhằm từng bƣớc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ ngành, ngân sách địa phƣơng do KTNN Việt Nam thực hiện.
Bài viết nghiên cứu “tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng”.Bài viết đã đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, các đề tài trên chƣa đi sâu vào nghiên cứu công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các Doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các Doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia ” với mong muốn đóng góp những ý kiến đánh giá, những quan điểm từ góc nhìn của bản thân Tác giả là một KTV nhằm đƣa ra những kiến nghị giúp hoàn thiện và nâng cao công tác kiểm toán Báo cáo tài chính của KTNN nói chung và công tác Kiểm toán Báo cáo tài chính các Doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của KTNN Chuyên ngành Ia nói riêng. Cơ sở lý luận về kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp Nhà nƣớc 1.
Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước “Doanh nghiệp nhà nƣớc là doanh nghiệp do Nhà nƣớc nắm giữ trên 50% vốn điều lệ”. “Doanh nghiệp nhà nƣớc là doanh nghiệp do Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Khái niệm các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng “Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh đƣợc giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ổn định, thƣờng xuyên bằng nguồn lực của Nhà nƣớc hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu doanh nghiệp phục vụ quốc phòng an ninh” (Nghị định số 93/NĐ-CP, 2015). Đặc điểm của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng 1.
Về tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng Doanh nghiệp Quốc phòng đƣợc phân biệt khối doanh nghiệp Quốc phòng an ninh; doanh nghiệp công ích Quốc phòng với 100% vốn của nhà nƣớc và các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nƣớc từ 51% trở lên. Trong hệ thống các DNQP có thể phân biệt bởi phân cấp ngân sách của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp trực thuộc thẳng Bộ Quốc phòng là đơn vị dự toán cấp 2; các doanh nghiệp (đơn vị dự toán cấp 3) trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 là các quân khu, binh chủng, tổng cục. Các DNQP, nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất vũ khí, sản xuất các thiết bị phục vụ quân sự và các doanh nghiệp kinh tế Quốc phòng (phục vụ nhiệm vụ quân sự, Quốc phòng thời bình và sẵn sàng cho thời chiến), trực thuộc các cơ quan chủ quản cấp trên nhƣ: Bộ Quốc phòng; quân khu; quân chủng; tổng cục; cục; vụ; viện; học viện nhà trƣờng… Với những đặc điểm có tính đặc thù về tổ chức biên chế, cơ chế hoạt động, nhiệm vụ công ích Quốc phòng của các doanh nghiệp.
Hoạt động SXKD theo cơ chế thị trƣờng, các DNQP phải chịu sự ràng buộc bởi địa vị pháp lý “kép”: vừa là đơn vị hành chính-quân sự (phải tuân thủ những quy định chung đối với tiềm lực quốc phòng của đất nƣớc), vừa là pháp nhân kinh tế (hoạt động theo các quy định và Luật doanh nghiệp đối với DNNN). Trong cơ cấu vốn và tài sản tại các DNQP có cả 2 nhóm yếu tố: vốn SXKD của doanh nghiệp (quản lý, khai thác, sử dụng theo 7 pháp luật kinh tế) và tài sản quân sự (đất Quốc phòng, trang bị, vật tƣ quân sự…giao cho đơn vị quản lý, khai thác, sử dụng theo các quy định của pháp luật quân sự). Do lịch sử hình thành nên phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh đƣợc tổ chức tự phát từ các đơn vị chủ quản nhƣ trên, chủ yếu tận dụng chất xám của đội ngũ cán bộ khoa học, một số tài sản… từ đó hình thành đơn vị sản xuất kinh doanh và dần chuyển thành DNNN. Cơ bản các doanh nghiệp này không đƣợc nhà nƣớc cấp vốn cho SXKD nên khi phát triển mạnh về quy mô hoạt động, về doanh thu thƣờng rất khó khăn về vốn.
Để đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị để xây dựng quân đội, các DNQP có nhu cầu đầu tƣ dây chuyền sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang thiết bị kỹ thuật quân sự ngày càng lớn, rất tốn kém, công nghệ phức tạp, đa số phải nhập ngoại, khó mua trong khi đó khả năng ngân sách Quốc phòng hàng năm đặt hàng tại các doanh nghiệp còn thấp, thƣờng không ổn định, chỉ đáp ứng đƣợc từ 10% đến 50% công suất thiết kế của trang thiết bị, chƣa tƣơng xứng với giá trị đầu tƣ. Việc khai thác, tận dụng năng lực quốc phòng để làm kinh tế ngày càng khó khăn dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hạn chế. Các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn chiến lƣợc song song với việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh phải việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giữ vững an ninh, chính trị, tạo thế phòng thủ, thực hiện phân bố lại cơ cấu kinh tế, dân cƣ, xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn đóng quân.Về tài chính doanh nghiệp Quốc phòng + Khối doanh nghiệp phục vụ Quốc phòng: Doanh nghiệp nhà nƣớc trực tiếp phục vụ Quốc phòng hoặc kết hợp kinh tế với Quốc phòng đƣợc tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp (Điều 67- Luật DN2005) và quy định riêng của Chính phủ. 8 DNQP cũng mang đầy đủ các đặc trƣng tài chính của các DNNN về sở hữu, phân phối thu nhập và mục tiêu hoạt động.