Chương 1: Tổng quan — 26 trang Chương 2: Vật liệu và phương pháp — 10 trang Chương 3: Kết quả và bàn luận — 42 trang Chương 4: Kết luận và kiến nghị - 2 trang 1.2 Bệnh thán thư trên xoài Xoài là một trong những loại trái cây nhiệt đới được ưa chuộng do có mùi vị thơm ngon, hấp dẫn, giá trị dinh dưỡng cao, vỏ và thịt quả chín có màu vàng tươi (Tharanathan et al. Quả xoài rất nhạy cảm và dễ bị thối rữa trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt do nhiệt độ, độ tươi của quả nói chung bị hạn chế do quá trình chín nhanh, bảo quản, xử lý và vận chuyển gây hư hỏng. Bên cạnh những hạn chế này, bệnh thán thư do nắm Collefotrichum gloeosporioides gây ra là bệnh sau thu hoạch phố biến nhất của xoài ở tất cả các vùng sản xuất xoài trên thé gidi (Shivamogga Nagaraju et al. Bệnh thán thư có thể gây thiệt hại từ 30 - 60 %, và đôi khi lên đến 100% đối với xoài được sản xuất trong điều kiện âm ướt hoặc độ âm cao.
Ngoài ra, bệnh thắn thu cũng ảnh hưởng đáng kề vào tốn thất trước thu hoạch và sau thu hoạch của các loại cây trồng khác như điều, đu đủ, lựu, ôi, và ớt (Kamle and Kumar, 2016). Bệnh thán thư lần đầu tiên được xác định trên cây Chilly vào năm 1890 (New Jersey, USA) bởi Halsted. Từ “Anthracnose” có nguồn gốc từ một từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “coal - than đá”, là tên gọi chung của bệnh thực vật với đặc điểm là các vết bệnh sam mau, lõm xuống, có chứa các bào tử. Nói chung, bệnh thán thư gây ra do loài Colletotrichum thuộc Giới Nắm Kingdom Fungi; Ngành Ascomycota, Lớp Sordariomycetes; Bộ Phyllachorales và Họ Phyllachoraceae.
Bệnh xảy ra dưới dạng nhiễm bệnh tiềm ẩn trên trái chưa trưởng thành và gây thiệt hại quan trọng hơn ở giai đoạn sau thu hoạch (Shivamogga NagaraJu et al. Nhiều phương pháp đã được phát triển để chống lại bệnh thán thư trên trái, nhưng chúng đều có những ưu, nhược điểm. Kiểm soát hóa học bằng cách phun trực tiếp thuốc trừ bệnh lên quả có hiệu quả cao nhưng có thể làm cho mầm bệnh kháng thuốc và tồn dư hóa chất nhiều (Schirra et al. Nhiéu loai tinh dau ty nhién dang nỗi lên là chất diệt nắm sinh học hiệu quả và an toàn, nhưng chúng dễ bay hơi và hàm lượng cao của chúng có thê ảnh hưởng đến hương vị bên trong của trái (Kumar & Kudachikar, 2018).
Xử lý nhiệt bằng cách nhúng trái cây vào nước nóng là một phương pháp đơn giản, không độc hại và hiệu quả vừa phải nhưng để tốn thương trái do nhiệt (Arauz, 2000). Chiếu xạ gamma hoặc các chất đối kháng sinh học có chỉ phí cao và hiệu quả thấp và cần có quy định cụ thê (Spalding, 1986; Koomen & Jeffries, 1993). Cho đến nay, sự kết hợp tuân tự hoặc đồng thời giữa nước nóng và thuốc diệt nắm là biện pháp xử lý thương mại sau thu hoạch hiệu quả nhất đối với bệnh thán thư trên xoài. Trong những năm gần đây, các mỗi nguy về môi trường và sức khỏe do sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật đã được thảo luận rộng rãi và do đó cần giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu đề kiểm soát các mầm bệnh thực vật (Shivamogga Nagaraju et al.
Trong số các kỹ thuật mới nỗi để chống lại bệnh thán thư trên trái cây, lớp phủ bề mặt kết hợp với các chất kháng khuẩn là một giải pháp đầy hứa hẹn với một số ưu điểm bổ sung: tạo vẻ ngoài bóng bây cho trái, giảm sự mất khối lượng, kéo đài quá trình chín, giải phóng các thành phân hoạt tính có kiểm soát và kéo dải thời gian bảo quản (Dang et al. Lớp phủ trái cây có thể là các polymer tự nhiên, như chitosan, tinh bột, gelatin, agar, alginate, hoặc các polymer tổng hợp, như polyethylene, carboxymethyl cellulose và copolymers (Huang et al. Chất nền polymer của lớp phủ trái cây nên sử dụng nguyên liệu không độc hại, có thể phân hủy sinh học, trong suốt và có thể điều chỉnh được trong các đặc tính rào cản chống lại hơi nước, COa, oxy và ethylene. Đối với lớp phủ chống vi sinh vật, tác nhân kháng vi sinh vật được thêm vào vật liệu bao gói dé tránh tiếp xúc trực tiếp và kiếm soát việc giải phóng chất bảo quản.
Nhiều thành phân kháng vi sinh vật đã được kết hợp thành công trong lớp phủ thực phẩm, ức chế mạnh sự phát triển của vi khuẩn và nắm: chất bảo quản thương mại (Valencia- Chamorro et al., 2009; Valencia-Chamorro et al., 2011), thuốc diệt năm (Park et al., 2001), chiết xuất thực vật (Nguyen Van Long et al., 2016), tỉnh đầu (Klangmuang & Sothornvit, 2018) va nano (Maneerat & Hayata, 2006; Chowdappa, et el.3 Giới thiệu nano đồng Khoa học nano và công nghệ nano là các nhánh khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển nhanh chóng và rất hữu ích, liên quan đến việc chế tạo, mô tả đặc tính, ứng dụng của các nano kim loại và phi kim loại với các thành phân, kích thước và hình dạng khác nhau (Lengke et al., 2007), khi ngày càng có nhiều sản phẩm dua trên vật liệu cầu trúc nano được giới thiệu trên thị trường. Các đặc tính của vật liệu nano rất khác biệt và vượt trội hơn so với các đặc tính ở cấp độ vĩ mô, dẫn đến tầm quan trọng các nghiên cứu vật liệu nano ngày càng tăng. Trong số các hạt nano hiện nay, nano đồng được sử dụng phổ biến nhất vì chúng được sản xuất đơn giản bằng cách khử các ion đồng trong dung dịch nước của đồng sunfate (Ashtaputrey, 2017). Các hạt nano đồng hầu hết được ứng dụng trong lĩnh vực y tế, thiết bị điện tử, cảm biến sinh học, thuốc thử trong các phản ứng khác nhau, chất bôi trơn và ngành công nghệ sinh học (Sadowski, 2010).
Hơn nữa, đông cũng được sử dụng như một chât kháng sinh, kháng nầm moc, khang vi sinh vat trong diéu tri vét thuong (Chatterjee et al. Trong những năm gân đây, các nghiên cứu về Cu và các hạt nano (NPs) gốc đồng được các nhà khoa học quan tâm rất nhiều do tính chất dẫn điện, dẫn nhiệt, từ tính, quang học, xúc tác và kháng vi sinh vật (Yokoyama et al. Các nghiên cứu mở rộng đã chứng minh hoạt tính kháng v1 sinh vật cao của các hạt nano kim loại. Các đặc tinh nay là do kích thước nhỏ và tỷ lệ điện tích bề mặt trên thê tích cao, giúp tăng cường sự tương tác của chúng với nhiều loại vi sinh vật.
Nano bạc hiện được nghiên cứu nhiều nhất cho thấy hiệu quả diệt khuẩn cao đối với vi khuẩn, nắm và virus (Rai et al. Tuy nhiên, chi phi cao gây cản trở đáng kê phạm vi ứng dụng của nano bạc. Vật liệu nano Cu rẻ hơn vật liệu Ag hoặc Au (Yokoyama et al. Do đó, giá thành thấp và hoạt tính kháng vi sinh vật cao của các hạt nano đồng (CuNP) trở thành giải pháp thay thế hấp dẫn cho các hạt nano bạc ứng dụng trong bao bì hoạt tính trong ngành công nghiệp thực phẩm (Asghar et al.
Tuy nhiên, nano Cu không bền trong không khí do nhạy cảm với quá trình oxy hóa hơn so với vật liệu Cu dạng khối. Do đó, Cu NPs ít được ứng dụng trong thực tế. Tuy nhiên, các nano đồng oxide (CuO, CuzO) đã được sử dụng rộng rãi như một chất chống vi sinh vật (Xiong et al. Vì vậy, các nghiên cứu tập trung vào việc tổng hợp vật liệu nano CuaO cho các ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau.
Trong nông nghiệp, đồng là một trong những vi chất dinh dưỡng cho sự phát triển của thực vật, tham gia vào quá trình tổng hợp chlorophyll và các phản ứng sinh hóa của tế bào thực vật (Yokoyama et al. Hơn nữa, CuzO ở kích thước nano có khả nang chéng vi sinh vat cao nhu Cu va CuO (Huang et al., 2015; Du et al. Dou et al. (2021) đã tổng hợp sinh học các hạt nano CuaO bằng cách sử dụng chiết xuất từ lá trà xanh (Camellia sinensis) và đánh giá các đặc tính xúc tác, gây độc tế bào, chống oxy hóa và chống ung thư buồng trứng ở người.
Hiện tại, các hạt nano kim loại, đặc biệt là các hạt nano đông được sử dụng đê chữa các chứng rôi loạn khác nhau, chăng hạn như khôi u và ung thư. Trong những năm gần đây, nhiều chất bỗ sung hóa tri liệu đã được bào chế bằng các hạt nano đồng (Dou et al. Việc tổng hợp các hạt nano băng các phương pháp vật lý và hóa học thường có một số nhược điểm như điều kiện khắc nghiệt về nhiệt độ, áp suất, hóa chất độc hại, đắt tiền, thời gian phản ứng hồi lưu lâu, các sản phẩm phụ độc hại,. Phương pháp tổng hợp xanh các hạt nano trở nên ngày càng quan trọng những năm gần đây, thành một trong những phương pháp được ưa thích nhất, với một số ưu điểm như đơn giản, rẻ tiền, độ ôn định tốt của các hạt nano, tiêu tốn ít thời gian, sản phẩm phụ không độc hại và tông hợp quy mô lớn (Iravani, 2011; Senthilkumar & Sivakumar, 2014).4 Ứng dụng của nano đồng Trong số những tiễn bộ gần đây của khoa học nông nghiệp, vật liệu nano kim loại đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cây trồng vì các đặc tính vật lý và hóa học độc đáo.
Các vật liệu này đáp ứng hai tiêu chí quan trọng nhất trong quản lý dịch bệnh, một là tính hiệu quả với tác động sinh thái tối thiểu, hai là ít độc tính hơn đối với con người. Thuốc diệt nắm gốc đồng tạo ra các gốc hydroxyl phản ứng cao, phá hủy lipid, protein, DNA và các phân tử sinh học khác, đóng vai trò quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh cho nhiều loại cây trồng. Với nhu cầu ngày càng tăng về thuốc trừ sâu trên toàn thế giới để kiểm soát mầm bệnh và sâu bệnh, cần tìm các giải pháp thay thế giải quyết cấp bách việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón. Các ứng dụng tiềm năng của vật liệu nano trong bảo vệ thực vật giúp phát triển các phương pháp tiếp cận hiệu quả và tiềm năng để quản lý các mam bệnh thực vật (SS Shende, ND Gaikwad, 2016).
Lĩnh vực công nghệ nano liên tục phát triển dự kiến sẽ đòi hỏi một lượng đáng kê vật liệu nano được tối ưu hóa chức năng. Nano đồng kim loại (Cu), cupric oxide (CuO), cuprous oxide (CuaO), cũng như vật liệu tổng hợp của Cu / CuaO, CuaO / CuO, thường được gọi là các hạt nano gốc đồng đã thu hút sự chú ý đo chúng được sử dụng rộng rãi trong điện tử, quang học, cảm biến, chất xúc tác và các ứng dụng y té.