Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC NGHIÊN CỨU 1. Phương ngữ học và phương ngữ Nam Bộ 1. Những vấn đề phương ngữ học 1.
Các khái niệm có liên quan tới phương ngữ học A. Phương ngữ Có nhiều định nghĩa về phương ngữ. Nhóm tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn quan niệm: “ Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ; là hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ ( cho toàn dân tộc ), các phương ngữ ( có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn ) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng”[ 46; 223]. Hoàng Thị Châu định nghĩa ngắn gọn hơn: “ Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác”.
Từ ngữ địa phương Theo Nguyễn Thiện Giáp:“ Từ ngữ địa phương là những từ ngữ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương. Nói chung, từ ngữ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc chứ không phải từ vựng của ngôn ngữ văn học. Khi được sử dụng vào sách báo nghệ thuật, các từ ngữ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật”.[13; 466] Từ ngữ địa phương có thể bao gồm những từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó chứ không phổ biến với toàn dân, do đó không có từ song song trong ngôn ngữ văn học toàn dân. 8 Ví dụ: Các từ: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, chao,…là những từ chỉ có ở miền Nam Việt Nam.
Những từ về ngữ âm giống với các từ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa thì khác như: nón có nghĩa là cái mũ, chén có nghĩa là cái bát, dù có nghĩa là cái ô,… Những từ có sự đối lập về ngữ âm ( hoàn toàn hoặc bộ phận) với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân như: mô, rào, chộ, ngái,…ở Trung Bộ ( tương ứng với các từ đâu, sông, thấy, xa,… trong ngôn ngữ toàn dân) Các từ con gấy, nác, cáo, mự, tru, chúc mào,…ở Nghệ Tĩnh ( tương ứng với các từ con gái, nước, gạo, mợ, trâu, chào mào,… trong ngôn ngữ toàn dân) Giữa từ ngữ toàn dân và từ ngữ địa phương có quan hệ qua lại lẫn nhau. Ranh giới giữa hai lớp từ này sinh động, thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sử dụng chúng. Từ ngữ địa phương là nguồn bổ sung cho ngôn ngữ văn học ngày càng giàu có, phong phú. Như trên đã nói, từ vựng địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ.
Khi sử dụng từ địa phương vào sách báo nghệ thuật, cần phải hết sức thận trọng và có mức độ. Nghĩa là chỉ nên sử dụng những từ ngữ chỉ các sự vật, hiện tượng nào đó lúc đầu chỉ được biết trong một khu vực, sau đó được phổ biến rộng rãi, có tính chất toàn dân và những từ ngữ địa phương có sắc thái biểu cảm cao so với các từ đồng nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân. Nếu người viết làm được điều này, từ ngữ địa phương sẽ phát huy hết tác dụng của chúng trong việc tham gia vào sáng tác văn chương hay sách báo nghệ thuật. Vấn đề phân vùng phương ngữ Phân vùng phương ngữ là vấn đề phức tạp.
Ở bình diện ngữ âm, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc phân vùng phương ngữ, nhưng chủ yếu các tác giả phân chia tiếng Việt ra thành ba, bốn hoặc năm vùng phương ngữ. - Quan niệm chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ: Có nhiều tác giả chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ, trong đó tiêu biểu là Hoàng Thị Châu. Tác giả này cho rằng tiếng Việt có ba phương ngữ gồm: phương ngữ Bắc ( Bắc Bộ 9 và Thanh Hóa ), phương ngữ Trung ( từ Nghệ An đến Đà Nẳng), phương ngữ Nam ( từ Đà Nẵng trở vào )[5;89] - Quan niệm chia phương tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ: Có các tác giả sau: + Nguyễn Kim Thản chia tiếng Việt thành: phương ngữ Bắc ( Bắc Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc ( phía Nam Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên ), phương ngữ Trung Nam ( từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ Nam ( từ Thuận Hải trở vào )[5;89] + Huỳnh Công Tín: phương ngữ Bắc Bộ ( các tỉnh Bắc Bộ và Thanh Hóa), Phương ngữ Bắc Trung Bộ ( các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên – Huế), phương ngữ Nam Trung Bộ ( các tỉnh từ Đà Nẳng đến Bình Thuận), phương ngữ Nam Bộ ( gồm ba khu vực là miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ)[44;42] - Quan niệm chia tiếng Việt thành năm vùng phương ngữ: Đây là quan niệm của Nguyễn Bạt Tụy (1961). Theo ông, tiếng Việt có thể chia thành: phương ngữ miền Bắc ( Bắc Bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung Trên (từ Nghệ An đến Quảng Trị), phương ngữ Trung Giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung Dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy) và phương ngữ miền Nam (từ Bình Tuy trở vào)[5;89] Xét trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, các tác giả cũng chia tiếng Việt ra làm ba vùng phương ngữ trùng với sự phân chia theo tiêu chí ngữ âm như ở trên chúng tôi đã trình bày.
Chỉ có sự khác nhau về vị trí của các phương ngữ Thanh Hóa mà thôi. Có tác giả đưa tiếng Thanh Hóa vào nhóm phương ngữ Bắc Bộ (Nguyễn Bạt Tụy, 1950), nhưng lại có tác giả ghép nó vào nhóm phương ngữ miền Trung (Hoàng Thị Châu, 1963; Vương Hữu Lễ, 1974)[5;89] Tác giả Huỳnh Công Tín thì chia tiếng Việt thành hai phương ngữ: Bắc Bộ và Nam Bộ. Theo tác giả nguyên nhân của tình hình này là “ vốn từ vựng của phương ngữ Trung Bộ, ngoài một lượng từ riêng ít ỏi, lớp từ vựng còn lại, hoặc là giống với lớp từ vựng của phương ngữ Bắc Bộ hoặc Nam Bộ” [44; 43] 10 Chúng tôi thống nhất với cách phân chia tiếng Việt thành 4 vùng phương ngữ của Huỳnh Công Tín. Theo đó, vùng phương ngữ Nam Bộ được xác định bao gồm ba khu vực: miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ, tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến Mũi Cà Mau.
Phương ngữ Nam Bộ 1. Sự hình thành vùng đất và con người Nam Bộ Vùng Nam Bộ chia thành ba khu vực: Đông Nam Bộ, Sài Gòn (nay được gọi là thành phố Hồ Chí Minh ) và Tây Nam Bộ. Có thể khái quát một số nét về sự hình thành các khu vực này như sau: a. Miền Đông Nam Bộ bao gồm năm tỉnh: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu.
So với các vùng còn lại của Nam Bộ thì đây là vùng đất được khai khẩn trước tiên trong quá trình di dân lập ấp của những lưu dân Bắc Trung Bộ. Đông Nam Bộ có vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể là kinh tế công nghiệp và du lịch, mà tiêu biểu là khu vực Biên Hòa – Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Vì thế, vùng Đông Nam Bộ là một địa bàn thu hút mạnh lực lượng lao động, sau thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, thành phần dân cư của vùng này cũng có tính chất đa dạng, đến từ nhiều vùng miền khác nhau của đất nước.
Sài Gòn là trung tâm chính trị, kinh tế, trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch lớn của cả nước. Nó nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đông Nam Á, được ví như Hòn ngọc viễn đông của vùng. Mặt khác, Sài Gòn là một thành phố lớn, nên sự giao tiếp của người Việt từ các miền của cả nước diễn ra thường xuyên và liên tục. Do đó, tính chất phương ngữ Nam Bộ ở Sài Gòn có thể bị biến đổi, bị pha trộn, không còn giữ những đặc trưng “ban đầu” của một số vùng, một số tỉnh ở Nam Bộ.
Tây Nam Bộ ( Đồng bằng sông Cửu Long ) là một vùng đất rộng lớn và phì nhiêu của miền đồng bằng Nam Bộ, bao gồm mười ba tỉnh, thành: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. So với các miền trong cả nước, có 11 thể nói, đây là vùng đất mới nhưng nhiều hứa hẹn của lưu dân Việt vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thế kỷ XVII. Môi trường mới đã tạo nên một hoàn cảnh mới, từ đó cũng hình thành ở lớp cư dân người Việt này một tính cách mới, một tư duy khác. Song song đó, những đặc trưng văn hóa mới cũng được hình thành cùng với những đặc điểm ngôn ngữ mới.
Sự hình thành phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ Nam Bộ là tiếng nói của người dân Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ được hiểu là những biến thể địa lý của ngôn ngữ toàn dân. Có nhiều nguyên nhân hình thành một phương ngữ: điều kiện địa lý, điều kiện xã hội và điều kiện kinh tế - chính trị,…Những điều kiện này sẽ dần dần dẫn đến sự khác biệt về cách phát âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách diễn đạt giữa các vùng. Sự khác biệt đó ngày càng lớn và phương ngữ ra đời.
Phương ngữ Nam Bộ cũng được hình thành trên cơ sở ấy. Sự ngăn cách về địa lý núi, đồi ở một đất nước có chiều dài tương đối lớn như nước ta đã một thời làm cho sự giao lưu, tiếp xúc của người dân giữa các vùng bị hạn chế. Tiếng Việt toàn dân bị cô lập giao tiếp trong các vùng, miền nhỏ và đó là điều kiện khiến tiếng Việt thống nhất phát triển theo những khuynh hướng khác nhau. Lịch sử phát triển của vùng đất phương Nam của Tổ quốc cũng đi liền với lịch sử của nhiều cuộc chiến tranh chia cắt có tính chất dai dẳng, quyết liệt, mà chính những cuộc chiến tranh này chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa các vùng, miền.
Cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn, Đàng Ngoài – Đàng Trong, kéo dài trong suốt hơn hai thế kỷ chia cắt, chiến tranh, kể từ khi Nguyễn Hoàn được lệnh vào Nam, mùa đông năm 1558, đến ngày Nguyễn Ánh lấy lại Phú Xuân, thống nhất đất nước 1802.