phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và ba chƣơng chính bao gồm: Chƣơng 1: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Đặc điểm từ Hán Việt trong tập truyện Những ngôi sao xa xôi. Chƣơng 3: Khảo sát việc hiểu và sử dụng từ Hán Việt trong Những ngôi sao xa xôi của học sinh khối lớp 9 trƣờng Trung học cơ sở Chu Văn An. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Giới thuyết chung từ Hán Việt 1. Khái niệm từ Hán Việt Bàn về từ Hán Việt có nhiều nhà nghiên cứu khai thác trên các khía cạnh khác nhau, tiêu biểu nhƣ: Tác giả Nguyễn Nhƣ Ý (1996) trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học quan niệm từ Hán Việt là từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã xâm nhập vào hệ thống từ tiếng Việt và chịu sự chi phối của các quy luật về ngữ nghĩa, quy luật ngữ pháp, quy lật ngữ âm của tiếng Việt. Do đó, từ Hán Việt còn đƣợc gọi là từ Việt, gốc Hán[53, tr. Tác giả cũng nhận định từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn từ đời Đƣờng trở về sau, ngƣời Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong Mẹo giải nghĩa từ Hán – Việt đã viết: “Xét về mặt lịch sử, một từ Hán Việt là một từ đƣợc viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc, nhƣng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, ngƣời Việt vẫn dùng để đọc mọi văn bản bằng tiếng chứ Hán, dù đó là của ngƣời Hán hay ngƣời Việt. Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà không có chữ Hán Việt. Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của ngƣời Việt về chữ Hán [35, tr. Tác giả Đặng Đức Siêu cho rằng từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lƣu và tiếp xúc ngôn ngữ, văn hóa Việt Hán.
Quá trình này diễn ra hàng nghìn năm, trong đó có chủ trƣơng “chủ động” và “Việt hóa”. Điều này bộc lộ rõ tài trí thông minh, sáng tạo và linh hoạt của tổ tiên ta [44, tr. Trong tác phẩm Từ ngoại lai trong tiếng Việt, GS.TS Nguyễn Văn Khang quan niệm từ Hán Việt chính là: “Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt nhƣ một đơn vị từ 9 vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều đƣợc coi là từ Hán Việt” [25, tr. Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt đã sử dụng khái niệm yếu tố gốc Hán để chỉ yếu tố có nguồn gốc tiếng Hán.
Mỗi yếu tố này là một chữ vuông trong tiếng Hán, còn trong tiếng Việt là một chữ (một âm tiết)[8, tr. Cụ thể, tác giả chia yếu tố gốc Hán làm ba khu vực: Cách đọc Hán – Việt I III II Yếu tố gốc Hán Khu vực I bao gồm những chữ Hán có thể đọc Hán – Việt đƣợc, nhƣng những chữ đó chỉ liên quan đến Hán Ngữ và không liên quan gì đến tiếng Việt nhƣ: chẩm, ma, giá. Khu vực II là những yếu tố mà ngƣời Việt Nam mƣợn từ tiếng Hán, nhƣng không trực tiếp liên quan gì đến cách đọc Hán – Việt. Tác giả gom lại thành 3 dạng: Loại mƣợn trƣớc cách đọc Hán – Việt nhƣ: buồng, buồm, mùi, mùa…; Loại mƣợn đời Đƣờng, cùng một lần với cách đọc Hán – Việt, nhƣng lại diễn biến theo con đƣờng khác với cách đọc Hán – Việt nhƣ: Gần, vốn, vá,…; Loại mƣợn thông qua một phƣơng ngữ tiếng Hán, ví dụ: cắc, lúc bú, mì chính… Khu vực III là những yếu tố mƣợn từ tiếng Hán, thông qua cách đọc Hán – Việt nên thƣờng đƣợc gọi là yếu tố Hán – Việt nhƣ: học, quốc, gia, tuyết,.
Xét về mặt ngữ pháp, có thể yếu tố Hán Việt này thành loại chỉ là tiếng, không là từ, không dùng độc lập nhƣ: quốc, sơn, thủy, xã, gia,…và loại vừa là tiếng, vừa là từ, có thể dùng độc lập nhƣ: học, thành, cao, tuyết,. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Chỉ đƣợc phép coi là từ Việt gốc Hán những từ nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt. Theo đó, 10 từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm hai bộ phận chính: Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gọi tắt là từ Hán Việt và các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt. Cả hai bộ phận trên đây đều có những đặc điểm riêng khác với các từ Hán đọc theo âm Hán Việt [19, tr.
Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt bao gồm: - Các từ ngữ Hán tiếp nhận từ đời Đƣờng đến ngày nay. Đặc điểm của loại này là chiếm đa số và thuộc nhiều lĩnh vực, ví dụ nhƣ: triều đình, giám sát, công nghiệp,.là những từ mƣợn trực tiếp, những từ mƣợn gián tiếp nhƣ: Câu lạc bộ, kinh tế,. - Những từ đƣợc cấu tạo ở Việt Nam nhƣ: tiểu đoàn, trung đoàn, đại đội, trung tá, thiếu tá. Các từ vào Việt Nam trƣớc đời Đƣờng đƣợc coi là những từ “Hán cổ” nhƣ: buồm, buồn, cải, chén, chém, chuộc, giá, tiệc, xe.
Những từ Hán Việt đƣợc Việt hóa nhƣ: dao, gan, gần, gươm, vợ, lành, vuông,. Qua trên, ta thấy có rất nhiều quan điểm về từ Hán Việt của các nhà nghiên cứu nhƣng đại đa số các ý kiến đều khẳng định: - Từ Hán Việt là từ gốc Hán. - Đọc theo âm Hán Việt. - Đƣợc sử dụng trong tiếng Việt.
Và để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu, chúng tôi theo quan điểm về từ Hán Việt của tác giả Nguyễn Văn Khang: Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt [25, tr. Đặc điểm của từ Hán Việt 1. Đặc điểm về cấu tạo Xét về phƣơng thức cấu tạo, từ Hán Việt đƣợc chia thành hai loại cơ bản là từ Hán Việt đơn tiết và từ Hán Việt đa tiết. *Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đơn tiết 11 Từ Hán Việt đơn tiết là những từ có ý nghĩa rõ ràng và có khả năng hoạt động tự do.
Từ Hán Việt đơn tiết thƣờng có nghĩa từ vựng gọi tên đặc điểm, tính chất mà tiếng Việt chƣa gọi tên nên khi đi vào kho từ vựng tiếng Việt chúng thƣờng giữ đƣợc khả năng hoạt động tự do. Những từ Hán Việt đơn tiết khi đi vào tiếng Việt có thể gặp những xung đột về đồng âm và đồng nghĩa với tiếng Việt, tuy nhiên vẫn trở thành từ hoạt động tự do bên cạnh từ tiếng Việt. Hiện tƣợng này không nhiều và phần lớn là các đơn vị đó đã có sự phân công hoặc thay đổi ít nhiều để tạo ra những giá trị riêng. Đa số từ Hán Việt đơn tiết trong tiếng việt là danh từ, ví dụ: − Danh từ chỉ ngƣời, nhƣ : ông, bà, quan,… − Danh từ chỉ động vật, nhƣ : hổ, báo, phượng,… − Danh từ chỉ thực vật, nhƣ : trúc, cúc, mai,… Các từ Hán Việt đơn tiết là động từ, tính từ khi đi vào tiếng Việt hoạt động ít hơn.
Từ Hán Việt đơn tiết có mặt đa dạng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt với số lƣợng lớn, nên các từ Hán Việt đơn tiết xuất hiện không chỉ riêng lẻ mà con theo trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa (nhóm). Theo đó, các từ Hán Việt đơn tiết xuất hiện với vai trò lấp đầy, bổ sung những khái niệm mới cho các trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa vốn có trong tiếng Việt. Ví dụ: - Trƣờng từ vựng thời tiết – khí hậu bên cạnh các từ thuần Việt nhƣ: gió, bão, mưa, dông,.đƣợc bổ sung thêm bởi các từ Hán Việt nhƣ: băng, tuyết,… - Trƣờng từ vựng thời gian bên cạnh các từ thuần Việt: ngày, tháng, năm, giờ, phút…đƣợc bổ sung bởi các từ Hán Việt nhƣ: giáp, kỷ,.
- Trƣờng từ vựng chỉ số đếm tiếng Việt đã đến nghìn, các từ Hán Việt bổ sung các từ trên một nghìn nhƣ: triệu, vạn, ức,. - Trƣờng từ vựng chỉ thực vật, động vật đƣợc bổ sung rất nhiều khái niệm mới nhƣ: đậu, đỗ, cam, lê, tùng, hồi, ngải, quế, sâm cúc.(thực vật); nhạn, yến, kình, cốc, nghê, phượng, loan,. 12 - Trƣờng từ vựng tình cảm, tâm lý đƣợc bổ sung các từ Hán Việt nhƣ: khổ, sầu, oán, hận, nhục, thù. Thông qua sự bổ sung này đã giúp cho các trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa có trong tiếng Việt trở nên hoàn chỉnh.
Thông qua cách nhập theo nhóm, trƣờng từ vựng là cách du nhập mang tính đặc thù của các từ mƣợn Hán có cách đọc Hán Việt. Bởi vậy thực tế cho thấy, không phải từ vay mƣợn của ngôn ngữ nào cũng đều có đặc điểm này mà chỉ từ vay mƣợn du nhập với số lƣợng lớn mới có. Các từ Hán Việt xuất hiện theo nhóm đã bổ sung cho hệ thống từ vựng tiếng Việt những trƣờng từ vựng ngữ nghĩa mới. Đây là một đặc điểm riêng của các từ Hán Việt đơn tiết.
− Nhóm từ chỉ phƣơng hƣớng: đông, tây, nam, bắc. − Nhóm từ chỉ mùa: xuân, hạ, thu, đông. − Nhóm từ chỉ các đơn vị hành chính: thôn, ấp, hương, giáp, xã, lí, tổng, châu, huyện, phủ, trấn, tỉnh, phường, khu, quận, đô, kinh, kì, xứ, bang,… − Nhóm từ chỉ “quan và dân”: quan, công, hầu, bá, tử, nam, vương, đế, khanh, thần, tổng, đề, lí, đội, tướng, soái, dân, lê, thứ, đinh. − Nhóm từ chỉ thiên can địa chi: canh, tân, nhâm, quý, giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, tý, sửu, dần, mão.
− Nhóm từ chỉ đạo đức phƣơng Đông: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh,… - Nhóm từ Hán Việt đơn tiết chỉ âm dƣơng ngũ hành: âm, dương, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. − Nhóm từ chỉ cuộc đời con ngƣời: số, kiếp, duyên, phận, trần, tục, mênh, vận, bĩ, thái, cát, hung, họa, phúc,… − Nhóm từ chỉ tôn giáo, tín ngƣỡng: hồn, xác, thần, thánh, yêu, ma, quỷ, quái, linh ; cầu, nguyện, cúng, bái, điếu, phúng, tế, tụng, niệm, tăng, ni, Phật, tử, phàm, tục, quy, kinh, kệ, tu, tiên,… 13 − Nhóm từ ngữ thuộc về đông y: châm, cứu, giải, thang, hoàn, nhiệt, phong, hàn, huyết, uyễn, tì, tâm, phế,… * Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt đa tiết So với từ Hán Việt đơn tiết, từ Hán Việt đa tiết chiếm số lƣợng lớn hơn, trong đó đa phần là từ song tiết.