Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn đƣợc triển khai trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tƣ duy nghệ thuật và tƣ duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nhất Linh Chƣơng 2. Hình tƣợng thẩm mĩ trong tiểu thuyết của Nhất Linh Chƣơng 3. Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Nhất Linh 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH 1. Tổng quan về tƣ duy nghệ thuật 1. Tư duy và những khái niệm gần nghĩa Tƣ duy chính là hoạt động nhận thức lý trí của con ngƣời. Ở mỗi một khía cạnh, góc độ và phƣơng diện khác nhau lại có những cách định nghĩa khác nhau về tƣ duy.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán và suy lý…”[80, tr. Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam khi nghiên cứu về tƣ duy thơ Việt Nam đã dẫn lại và đặc biệt nhấn mạnh định nghĩa của nhà triết học Rodentan, P.Iudin: “Tƣ duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con ngƣời. Khí quan của tƣ duy chính là bộ óc ngƣời với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [92, tr.38] Nhƣ vậy, xem xét tƣ duy nhƣ một giai đoạn của quá trình nhận thức thì chúng ta có thể thấy tƣ duy chính là một giai đoạn phát triển cao của quá trình nhận thức, dựa trên sự hoạt động tinh vi của hệ thống thần kinh nhằm giúp con ngƣời có thể đi sâu khám phá, phát hiện bản chất của sự vật cũng nhƣ đƣa ra những biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán và suy lý. Trong thực tiễn, khái niệm tƣ duy có mối quan hệ gần gũi với khái niệm ý thức.
Tuy nhiên, chúng ta không thể đồng nhất tƣ duy với ý thức. Nói đến ý thức là nói đến sự phản ánh hiện thực của con ngƣời ở trạng thái tĩnh còn tƣ duy là ý thức ở trạng thái động. Tƣ duy cũng nghĩa gần với tƣ tƣởng nhƣng cũng không thể đồng nhất tƣ duy với tƣ tƣởng. Nếu tƣ duy thiên về phạm trù phƣơng pháp thì tƣ tƣởng lại thiên về phạm trù nội dung.
11 Tƣ duy còn có nghĩa rất gần với lý trí nhƣng nói đến lý trí là nói đến những “cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức” [92, tr. 11] còn tƣ duy là nói đến sự vận động của các yếu tố nhƣ tình cảm, cảm xúc, tƣ tƣởng và lý trí nhằm mục đích nhận thức. Tuy giữa các khái niệm này đều có điểm khác biệt nhƣng chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đặc trƣng của tƣ duy chính là phản ánh các mối quan hệ của con ngƣời với thế giới khách quan, giữa các sự vật hiện tƣợng với nhau, giữa con ngƣời với con ngƣời.
Nói đến tƣ duy chính là nói đến hoạt động của bộ óc con ngƣời ở trạng thái động. Tư duy nghệ thuật Tƣ duy nghệ thuật chính là một trong những vấn đề quan trọng trong sáng tạo cũng nhƣ nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học. Mọi sự đổi mới văn học trong mỗi thời kỳ đều là kết quả của sự đổi mới tƣ duy nghệ thuật của nhà văn. Nói cách khác, nếu không có những đổi mới trong tƣ duy nghệ thuật thì sẽ không có sự đổi mới sáng tạo nào của nghệ thuật.
Bởi vậy, trên thực tế, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu của các nhà lí luận - phê bình văn học xoay quanh vấn đề tƣ duy nghệ thuật nhƣ: Trần Đình Sử với công trình Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và h nh tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua (1986); Mai Hƣơng với công trình Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi (2006), nhiều tác giả với Đổi mới tư duy tiểu thuyết, Nguyễn Thị Bình (1998), “Tƣ duy mới về tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học (7), tr.69 -75… Những công trình nghiên cứu kể trên đã góp phần khẳng định rõ vai trò của tƣ duy nghệ thuật trong đổi mới văn học. Bên cạnh hoạt động sáng tạo nghệ thuật, tƣ duy nghệ thuật cũng có vai trò quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn học. Mỗi một tác phẩm đƣợc đem ra bình luận, nhà phê bình lại phải có tƣ duy nghệ thuật để đi sâu, xâm nhập vào từng tác phẩm ấy mới có thể khám phá những giá trị thẩm mỹ ẩn chìm bên trong tác phẩm. Nhƣ vậy, “tƣ duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con ngƣời hƣớng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Tƣ duy nghệ thuật dựa trên nền tảng tâm sinh lý khác hẳn với tƣ duy lý luận” [67, tr. Ở đây, mục đích 12 cuối cùng của tƣ duy chính là tìm ra bản chất của sự vật, hiện tƣợng để nắm bắt quy luật, hiện tƣợng đời sống khách quan. Khác với tƣ duy hành động trực quan là tƣ duy thực tiễn hằng ngày và tƣ duy lôgic chính là kiểu tƣ duy khoa học thì tƣ duy hình tƣợng chính là kiểu tƣ duy đặc thù của nghệ thuật. Mục đích của tƣ duy nghệ thuật là tìm ra bản chất của sự vật, hiện tƣợng để nắm bắt quy luật của đời sống khách quan.
Tƣ duy nghệ thuật là loại hình tƣ duy vận dụng phƣơng pháp tƣ duy hình tƣợng vào sáng tác nghệ thuật. Bởi vậy, “tƣ duy nghệ thuật có thể sử dụng hƣ cấu, tƣởng tƣợng để xây dựng những hình tƣợng có tầm khái quát lớn lao, tác động mãnh liệt đến ngƣời đọc” [57, tr. Tƣ duy nghệ thuật có vai trò quan trọng trong sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật có giá trị đều là kết quả của một quá trình tƣ duy sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ.
Bởi thế, tác phẩm nghệ thuật là kết tinh của trí tuệ và cảm xúc, là sự phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, năng lực tƣ duy và trình độ nhận thức của ngƣời nghệ sĩ. Văn học phản ánh hiện thực thông qua các hình tƣợng nghệ thuật. Tuy nhiên, không thể đồng nhất hình tƣợng nghệ thuật với hiện thực đời sống (kể cả với những hình tƣợng nghệ thuật đƣợc xây dựng dựa trên những nguyên mẫu của đời sống). Bởi nguyên mẫu của đời sống là hình tƣợng trực tiếp còn hình tƣợng văn học là hình tƣợng mang tính gián tiếp.
Để xây dựng hình tƣợng nghệ thuật, ngƣời nghệ sĩ đã bằng trí tƣởng tƣợng của mình cùng với đó là sự chuyển hóa đa dạng và phong phú của tình cảm, cảm xúc với lý trí và ý thức xã hội để tạo ra những hình tƣợng nghệ thuật mới lạ, giàu sức biểu cảm, có sức sống mãnh liệt đối với ngƣời đọc. Nhƣ vậy, cách thức để văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống không đơn giản, thuần túy, nhất nhất đi theo cái thực tại đang diễn ra mà ở một mức độ cao hơn, phức tạp hơn. Nói cách khác, tác phẩm văn học là tấm gƣơng phản chiếu những nghiền ngẫm của nhà văn về nhân sinh quan, thế giới quan và nghệ thuật. Đặc biệt, để xây dựng nên các hình tƣợng nghệ thuật thì nhà văn còn cần đến sự 13 vận động tƣ duy nhằm lựa chọn ngôn ngữ biểu đạt nhƣ một chất liệu nghệ thuật quan trọng nên quá trình sử dụng chất liệu này cũng là một hành trình sáng tạo mà ở đó nhà văn thể hiện đƣợc trình độ tƣ duy ngôn ngữ của mình nhằm xây dựng nên những hình tƣợng nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn.
Tƣ duy nghệ thuật vừa phản ánh nét chung của các nhà văn trong hành trình sáng tạo nghệ thuật (tƣ duy bằng hình tƣợng) nhƣng đồng thời cũng phản ánh nét riêng biệt trong tƣ duy nghệ thuật của từng nhà văn. Mỗi ngƣời nghệ sĩ sẽ có cách lựa chọn biểu tƣợng khác nhau để bộc lộ tƣ duy và cách nhìn thế giới của riêng mình. Mỗi nhà văn nhà thơ nhìn thế giới theo những cách riêng, có cá tính sáng tạo riêng, có sự lý giải, cắt nghĩa riêng về hiện thực đời sống và con ngƣời. Chính những nét riêng đó đã góp phần hình thành nên phong cách nghệ thuật độc đáo của từng nhà văn.
Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn, giữ vị trí trung tâm trong đời sống văn học. Một nền văn học lớn không thể thiếu vắng những thành tựu quan trọng của những bộ tiểu thuyết vĩ đại. Bởi vai trò quan trọng đó mà tiểu thuyết đƣợc xem là thể loại máy cái trong đời sống văn học. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong hầu hết các cuốn sách công cụ lý luận văn học, vấn đề định nghĩa tiểu thuyết vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết đƣợc định nghĩa là “một tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, nhiều bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [69, tr. Định nghĩa này đã phản ánh khá chính xác những đặc trƣng của thể loại (đặc biệt là với những tiểu thuyết truyền thống). Tuy nhiên, trải qua một hành trình của sự vận động và biến đổi không ngừng, tiểu thuyết đã có sự xác lập các nguyên tắc – phá vỡ nguyên tắc – tái thiết lập những chuẩn mực thẩm mĩ mới.
Ít nhiều những nội hàm trong định nghĩa trên (phản ánh nhiều cuộc đời, nhiều bức tranh phong tục, tái hiện 14 nhiều tính cách đa dạng…) đã không còn hoàn toàn phù hợp với những tiểu thuyết đƣơng đại ngày nay. Điều này bị chi phối bởi nhiều yếu tố (sự ra đời của Internet, sự đi xuống của văn hóa đọc và sự lấn át, lên ngôi của văn hóa nghe nhìn, tâm lý ngƣời tiếp nhận…) nên những bộ tiểu thuyết đồ sộ phản ánh nhiều số phận, nhiều cuộc đời, nhiều tính cách đang dần nhƣờng chỗ cho những tiểu thuyết ngắn đi sâu khai thác trải nghiệm đời tƣ của một số phận, một cuộc đời… Cũng bởi tiểu thuyết luôn vận động và biến đổi không ngừng nên nhà lý luận tiểu thuyết M. Bakhtin đã khẳng định bản chất năng động của tiểu thuyết nhƣ một thể loại văn chƣơng duy nhất đang biến chuyển và chƣa định hình, nòng cốt của thể loại chƣa hề rắn lại và chúng ta chƣa thể đoán định đƣợc hết những bƣớc đi uyển chuyển của nó.