Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH TỤNG GIỮA KIỂM SÁT VIÊN VÀ NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Nhận thức chung về tranh tụng 1. Khái niệm về tranh tụng tại phiên toà hình sự Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng nền văn minh nhân loại. Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả đảm bảo cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng.
Hiện nay, trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng, hoạt động tranh tụng nói chung và hoạt động tranh tụng của Người bào chữa - Luật sư, Kiểm sát viên nói riêng. Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện tụng [32]. Xét về ngữ, tranh tụng là một từ Hán Việt được ghép từ “tranh luận” và “tố tụng”. Còn tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu.
Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội), mà giai đoạn đương đầu tại Tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm. Tuy nhiên, không nên hiểu một cách giản đơn tranh tụng là tranh luận, tranh cãi giữa các bên tại phiên tòa, mà phải hiểu tranh trụng nó diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai bên tiến hành một cách quyết liệt, khi công khai, lúc ngấm ngầm để “cạnh tranh” nhau, để “chống” lại nhau. Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội (công tố) cố gắng làm sao thuyết phục các quan tòa tin được rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội, ngược lại, cố gắng và phải sử dụng mọi biện pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏ những lời buộc tội do bên Công tố 6 đưa ra. Và điều đáng lưu ý là trong hệ thống tố tụng tranh tụng gốc.
Luật sư của bị cáo có thể bất chấp thủ đoạn để bảo vệ thân chủ bằng mọi giá. Phiên tòa tranh tụng thật sự là một “ bãi chiến trường” theo đúng nghĩa của nó khi mà kết cục phiên tòa, chỉ có một bên giành được phần thắng [48]. Xét về cách hiểu thông thường nhất, “tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [14]. Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau song tranh tụng được xem là một loại hoạt động trong quá trình tố tụng cả trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự song đậm nét nhất vẫn là trong tố tụng hình sự.
Tranh tụng không chỉ đòi hỏi Tòa án phát huy vai trò phán xét của mình để đưa ra sự thật khách quan của vụ án mà còn đòi hỏi mỗi người tham gia hoạt động tố tụng phải phát huy vai trò của mình. Cụ thể, Tòa án giữ vai trò trung gian, trọng tài cho cuộc tranh tụng giữa Luật sư và Kiểm sát viên. Trong đó Luật sư giữ vai trò là Người bào chữa và bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra với vai trò là bên buộc tội để tìm ra công lý. Hay nói cách khác, tranh tụng trong phiên tòa chính là một trong các hoạt động tố tụng được tiến hành bởi các bên tham gia tố tụng nhằm mục đích đưa ra các luận điểm, ý kiến của mình để bảo vệ quan điểm hoặc bác bỏ luận điểm và những lời buộc tội của phía bên kia dưới sự điều khiển công minh, chính trực của Tòa án.
Xét về mặt chủ thể, có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ pháp luật trong tranh tụng là mối quan hệ giữa cơ quan, cá nhân hoạt động nhân danh Nhà nước, nhánh quyền tư pháp với cá nhân hoạt động mang tính xã hội - nghề nghiệp. Tranh tụng vì thế có đặc thù bất bình đẳng về vị trí pháp lý của chủ thể nên đòi hỏi phải có sự bình đẳng trong cách thức, quy trình và thủ tục tranh tụng, cách đánh giá và phán xét để đảm bảo cho Luật sư được bình đẳng 7 trong tranh tụng, đảm bảo quyền lực tố tụng được san sẻ và đạt ở mức bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng. Phân biệt giữa “ tranh tụng” và “ tranh luận” Tiến sỹ Nguyễn Thái Phúc khi cho rằng, ở góc độ chung nhất, “tranh tụng” là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng với nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ các ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, khi xuất hiện chức năng buộc tội thì tất yếu xuất hiện chức năng bào chữa. Đó chính là thời điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng… Còn “tranh luận” là một thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa xét xử trong đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua phần trình bày của mình tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án và đưa ra những đánh giá chính trị - xã hội và đánh giá pháp lý đối với các hành vi của bị cáo, đề nghị hình phạt và những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi nghị án.
Tranh luận là cuộc "đấu khẩu" với sự tham gia của các "bên" buộc tội và bào chữa có quyền ngang nhau để bảo vệ các ý kiến, luận điểm của mình và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên đối trọng dưới vai trò điều khiển và quyết định của Tòa án. Tranh luận tạo cơ hội cho các bên trình bày những đánh giá có tính kết luận của mình về các vấn đề của vụ án với Hội đồng xét xử nhằm thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận những đề nghị của mình và bác bỏ đề nghị của phía bên kia. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa thể hiện đậm nét nhất, tập trung nhất và là đỉnh cao của quá trình tranh tụng. Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng [35].
Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi sự phân định rõ ràng về các chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử, trong đó chức năng buộc tội thuộc về bên công tố, chức năng gỡ tội thuộc bên Luật sư biện hộ và chức năng xét xử thuộc về Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nội dung của nguyên 8 tắc tranh tụng xuyên suốt quá trình tố tụng hình sự kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra cho đến khi Tòa án ra phán quyết, chứ không nên hiểu đơn giản là tranh tụng chỉ được tiến hành tại phiên tòa. Nguyên tắc tranh tụng chính là điều kiện để bảo đảm việc xác định đúng đắn sự thật khách quan của vụ án, hình thức tranh tụng giúp cho việc kiểm tra tại phiên tòa từng chứng cứ, từng chi tiết của vụ án ở cả hai góc độ buộc tội và gỡ tội. Nhờ đó, Tòa án có thể nghiên cứu, đánh giá tất cả những gì mà bên buộc tội khẳng định cũng như tất cả những gì mà bên gỡ tội phản bác.
Trên cơ sở đó xác định đúng người phạm tội dể trừng trị, đồng thời không làm oan người vô tội, tạo tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Xét xử hình sự, là hoạt động giải quyết vụ án mà trong đó Tòa án xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ dựa trên các chứng cứ, tranh luận của bên buộc tội và bên gỡ tội đối chiếu với các quy định của pháp luật có liên quan từ đó đưa ra phán quyết về vụ án. Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng, địa vị pháp lý của các bên cũng khác nhau. Tranh tụng trong tố tụng hình sự diễn ra giữa các bên buộc tội và bên bào chữa, chủ yếu là giữa Kiểm sát viên với Người bào chữa và bị cáo.
Để những người đó thực hiện việc tranh tụng, pháp luật tố tụng quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định. Bản chất của tranh tụng được thể hiện đầy đủ và rõ nét nhất trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại Tòa, còn ở các giai đoạn khác của tố tụng hình sự, nguyên tắc này chỉ thể hiện trong một số yếu tố nhất định. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm là Tòa án giữ vai trò là chủ thể chính trong việc duy trì và hướng dẫn các thủ tục đối với các bên tham gia tranh tụng tại Tòa. Tuy nhiên, Tòa án không hạn chế tính chủ động và tích cực của các bên tham gia tranh tụng hoặc “làm thay chức năng của họ”.
Mặt khác, Tòa án 9 cũng không được để cho quá trình tranh tụng diễn ra theo ý chí chủ quan của các bên. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành đã kết hợp được những điểm tích cực của tố tụng xét xử và tố tụng tranh tụng. Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không phải là “tố tụng tranh tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa Kiểm sát viên, người bị hại với bị cáo, Người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa Kiểm sát viên với người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau.
Trong tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và Luật sư vẫn là những người tham gia chính. Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau. Do đó, vai trò của Hội đồng xét xử mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục đích là vô cùng quan trọng. Tranh tụng được hiểu là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình và phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập.