Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa. - Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. - Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA 1.
Một số vấn đề chung về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự 1. Quyền bào chữa và người bào chữa trong tố tụng hình sự 1. Quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân đƣợc Hiến pháp nƣớc CHXHCN Việt Nam ghi nhận nhƣ sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [35, Điều 31]. Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Có thể hiểu rằng: Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự [46, tr. Quyền bào chữa không những đƣợc pháp luật ghi nhận mà còn đƣợc bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục đƣợc quy định chặt chẽ trong pháp luật. Quyền bào chữa đƣợc cụ thể hóa bằng các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS và đƣợc quy định chi tiết thông qua các điều luật quy định về trách nhiệm của các CQTHTT, quyền, nghĩa vụ của ngƣời bào chữa cũng nhƣ các điều luật khác trong BLTTHS.
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, quyền bào chữa chỉ thuộc về những chủ thể bao gồm: ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc quan trọng đƣợc ghi nhận tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 12 BLTTHS năm 2003. Nguyên tắc này bảo đảm cho ngƣời bị buộc tội nói chung quyền chống lại việc buộc 7 z tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ phía các CQTHTT. Nó có ý nghĩa to lớn và là điều kiện thiết thực để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng là điểu kiện để Tòa án xem xét một các khách quan, toàn diện đối với vụ án.
Quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo đó quyền bào chữa đƣợc pháp luật bảo đảm bằng hai hình thức là Tự bào chữa" (bào chữa do chính bị cáo thực hiện) hoặc "Nhờ người khác bào chữa" (bào chữa dƣới sự giúp đỡ của ngƣời bào chữa) [31, Điều 50]. Theo đó: Tự bào chữa là một hình thức để bị can, bị cáo, ngƣời bị tạm giữ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tự bào chữa là một quyền năng tố tụng đặc thù, theo đó, pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho phép ngƣời bị tạm giữ bị can, bị cáo tự mình thực hiện các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bào chữa nhằm minh oan, bác bỏ việc buộc tội của các CQTHTT hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự họ thƣờng có vai trò thụ động và phụ thuộc nhiều vào các CQTHTT.
Trên thực tế, những trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự bào chữa thƣờng mang lại hiệu quả không cao, bởi lẽ khi bị bắt giữ, họ bị hạn chế một số quyền cơ bản, nên họ không đƣợc thu thập chứng cứ, không đƣợc xem xét tài liệu do CQĐT thu thập, vì vậy việc tự bào chữa của bị cáo rất khó khăn và hạn chế. Nhờ người khác bào chữa là một hình thức bào chữa khác đƣợc pháp luật TTHS ghi nhận trong trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể tự mình thực hiện việc bào chữa. Đó là các trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo hạn chế về hiểu biết các quy định của pháp luật cũng nhƣ do bị áp dụng các biện pháp cƣỡng chế nên họ không thể thực hiện đƣợc đầy đủ và có hiệu quả quyền tự bào chữa của mình. Do đó, họ cần phải nhờ đến sự giúp đỡ của ngƣời bào chữa để thực hiện việc bảo chữa cho mình.
Việc tham gia tố tụng của ngƣời bào chữa là rất cần thiết trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo 1. Người bào chữa bào chữa trong tố tụng hình sự Ngƣời bào chữa có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời bị buộc tội, hầu hết pháp luật của các nƣớc trên thế giới đều ghi 8 z nhận việc tham gia tố tụng của ngƣời bào chữa. Khác với sự tham gia tố tụng của các chủ thể khác, ngƣời bào chữa tham gia tố tụng không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính bản thân mình mà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời đang bị cáo buộc có hành vi phạm tội. Sự tham gia tố tụng của ngƣời bào chữa cũng góp phần bảo vệ công lý, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mối quan hệ giữa ngƣời bào chữa với ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ xuất hiện trên cơ sở một trong hai trƣờng hợp: ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngƣời đại diện hoặc ngƣời thân thích của họ mời ngƣời bào chữa và đƣợc các CQTHTT chấp thuận; hoặc do các CQTHTT cử ngƣời bào chữa cho bị can, bị cáo và đƣợc họ chấp nhận. Trên cơ sở những quyền đã đƣợc pháp luật ghi nhận tại Điều 58 BLTTHS ngƣời bào chữa có thể làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời giúp đỡ về mặt pháp lý cần thiết cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong BLTTHS 2003 chƣa nêu đƣợc khái niệm thống nhất về ngƣời bào chữa dẫn đến tình trạng có nhiều cách hiểu và khái niệm riêng về ngƣời bào chữa đƣợc xây dựng trên cơ sở cách hiểu của từng nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 BLTTHS 2003 thì có thể hiểu một cách chung nhất: Ngƣời bào chữa là ngƣời đƣợc các CQTHTT chứng nhận, tham gia tố tụng để đƣa ra những tình tiết xác định ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ [40, tr.
Bào chữa là một chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Muốn bào chữa đúng đắn, khách quan trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực sự có tác dụng đòi hỏi những ngƣời bào chữa phải có năng lực thực sự, trong đó quan trọng là nắm chắc pháp luật, hiểu biết rõ về những ngƣời mà họ đứng ra bảo vệ. Đối với các chủ thể có tƣ cách của ngƣời bào chữa, Khoản 1 Điều 56 BLTTHS 2003 quy định ba chủ thể bào chữa đó là (a) Luật sƣ; (b) Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; (c) Bào chữa viên nhân dân. 9 z Ngoài ba chủ thể đƣợc BLTTHS 2003, còn một chủ thể đƣợc tham gia bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý 2006 quy định: “Trợ giúp viên pháp lý được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa” [33, tr.
Cụ thể hóa quy định cho phép Trợ giúp viên pháp lý đƣợc tham gia tố tụng, Điều 10 Thông tƣ liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC- VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 cũng đã quy định trách nhiệm của các CQTHTT trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ngƣời bào chữa. (a) Luật sƣ Luật sƣ là ngƣời hoạt động chuyên nghiệp tham gia trong một Đoàn Luật sƣ theo quy định của pháp luật. Trong thời đại hiện nay, vị trí, vai trò của Luật sƣ ngày càng đƣợc nâng cao. Ở Việt Nam, sau khi Luật Luật sƣ 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 có hiệu lực thì đội ngũ luật sƣ của chúng ta ngày càng đƣợc nâng cao cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng.
Luật Luật sƣ quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” [34, Điều 2]. Để đƣợc công nhận là một luật sƣ thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã đƣợc đào tạo nghề luật sƣ, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sƣ, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sƣ thì có thể trở thành luật sƣ, đã đƣợc cấp chứng chỉ hành nghề luật sƣ và gia nhập một Đoàn Luật sƣ (Điều 10 và Điều 11 Luật Luật sƣ). Luật sƣ đƣợc lựa chọn hình thức để hành nghề theo một trong hai hình thức là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sƣ hoặc hành nghề với tƣ cách cá nhân (Điều 23 Luật Luật sƣ). Đây là quy định mới của luật Luật sƣ năm 2006 sửa đổi bổ sung 2012 so với quy định của pháp lệnh Luật sƣ năm 2001, quy định này là sự mở rộng diện các luật sƣ đƣợc tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự, qua đó các luật sƣ không còn bị giới hạn bởi việc phải tham gia vào tổ chức hành nghề luật sƣ mới có thể thực hiện vai trò ngƣời bào chữa trong vụ án hình sự mà có thể thực hiện vai trò này ngay cả khi hoạt động dƣới hình thức cá nhân.