Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý cơ bản và ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ 1. Khái niệm chung về các tội phạm tham nhũng Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng đã sử dụng thuật ngữ nói về tham nhũng như sau: “Cộng đồng quốc tế bày tỏ sự lo ngại về tính nghiêm trọng của các vấn đề cũng như các mối đe dọa do tham nhũng gây ra đối với sự ổn định và an ninh xã hội, xói mòn các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý và gây tổn hại đến sự pháp triển bền vững và chế độ. Tại Việt Nam hiện nay, tham nhũng đang là một trong những vấn đề gây nhức nhối, được toàn Đảng, toàn xã hội rất quan tâm.
Tham nhũng là căn bệnh của bộ máy quyền lực, là một trong những nguyên nhân tạo ra sự trì trệ, làm giảm tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng hàng đầu, coi đó là một trong những “vấn nạn quốc gia” cần được từng bước loại bỏ trong tương lai để tiến tới xây dựng một đất nước phát triển phồn vinh, ổn định. Nhìn từ góc độ chính trị, tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực thể hiện sự tha hóa của quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước mà một trong những biểu hiện của sự tha hóa đó là đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của tập thể, của xã hội, đây là hiểm họa đe dọa sự tồn tại của một nền chính trị, một chế độ Nhà nước [27, trg 25]. Nhìn từ góc độ đạo đức, tham nhũng là hiện tượng trái với đạo đức của xã hội, làm tha hóa, hủy hoại giá trị tốt đẹp của con người, làm ranh giới giữa lòng tham, cái ác, sự vô cảm được tăng lên, đi ngược với truyền thống đạo đức của xã hội.
Nhìn từ góc độ kinh tế, tham 6 n nhũng là hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế khi nó dùng phương thức bất hợp pháp để làm giàu cho một bộ phận nhỏ trong xã hội, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, cản trở phá hoại nên kinh tế và các chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhìn từ góc độ pháp lý, tham nhũng là hành vi trái pháp luật hình sự với lỗi cố ý, được bộ luật hình sự quy định và trừng trị. Tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định:”1. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của cải” [38, tr. Như vậy, ta có thể hiểu tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng việc thực hiện quyền lực của nhà nước để thực hiện các hành vi trục lợi cho bản thân. CTPTN, CTPVCV thể hiện sự tha hóa của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Nó là sự lạm dụng quyền lực khi Nhà nước trao cho một số cá nhân quyền nhất định thay mặt Nhà nước điều hành, giải quyết các công việc nhằm xây dựng đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
CTPTN, CTPVCV là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khái niệm về tội nhận hối lộ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay Tội nhận hối lộ là một trong những tội điển hình của các tội phạm về tham nhũng, chức vụ, nó được coi là một loại tội phạm rất nguy hiểm, làm tổn thất tài sản của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Theo từ điển tiếng việt, “hối lộ” là động từ, được hiểu là: “Lén lút đưa tiền của để nhờ kẻ có quyền làm điều trái với pháp luật nhưng có lợi cho mình”. Còn trong Tiếng Anh, “Bribery” (hối lộ) có nghĩa là “một dạng tham nhũng, là hành vi đưa tiền hoặc quà nhằm thay đổi thái độ của người nhận” [44] 7 n Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng quy định về tội nhận hối lộ như sau: “Hành vi của người có chức vụ (trong lĩnh vực công hoặc tư, của quốc gia hoặc tổ chức quốc tế), trực tiếp hay gián tiếp, đòi hoặc nhận một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức hay cho người hoặc tổ chức khác, để người có chức vụ đó làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ”.
Xét dưới góc độ chính trị, “Hối lộ là một trong những loại bổng lộc của quyền lực và là một hình thức trao đổi chung giữa quyền lực và sự giàu có” [40]. Hiện tượng hối lộ làm mất niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị nói chung và cán bộ, công chức được coi là “công bộc của nhân dân” nói riêng. Khi chúng ta nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi hối lộ đối với hệ thống chính trị, sự cần thiết phải xử lý loại hành vi này bằng pháp luật hình sự trở nên rõ ràng hơn. Trong khi đó, từ khía cạnh hành chính - nhà nước, các học giả và đa số các quốc gia đều thống nhất chung “hối lộ” là một loại hành vi tham nhũng.
Hiện tượng này đang có xu hướng xảy ra nhiều tại những nơi thiếu sự minh bạch và thiếu sự tôn trọng các quy tắc đạo đức, đồng thời tác động trở lại làm cho bộ máy nhà nước trở nên trì trệ, thối nát và quan liêu. Đặc biệt, hối lộ cũng hủy hoại đạo đức và trách nhiệm của những người thực thi chức trách, làm mất lòng tin của công chúng vào hoạt động công vụ [36, tr.] Tuy có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản, có thể hiểu khái quát: Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận lợi ích vật chất hoặc phi vật chất để sử dụng quyền lực được nhà nước, tổ chức giao phó thực hiện hoặc không thực hiện mong muốn có lợi cho người đưa hối lộ. Dưới góc độ của pháp luật hình sự Việt Nam, tội nhận hối lộ là một trong các tội cơ bản của tội phạm về chức vụ được quy định tại điều 354, Bộ luật hình sự năm 2015. Nhận hối lộ là một trong những tội phạm có tính đặc trưng, nghiêm trọng nhất trong nhóm các tội phạm về tham nhũng.
Tác hại của tội phạm này gây 8 n hậu quả trên nhiều phạm vi, nhiều lĩnh vực là trở ngại lớn trong quá trình đất nước đổi mới, đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội nhận hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 1. Dấu hiệu về khách thể của tội nhận hối lộ Khách thể của Tội nhận hối lộ là hoạt động đúng đắn, những quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong Nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này bị suy yếu, mất uy tín; làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Đa số các hành vi nhận hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn là làm trái với công vụ được giao, gây thiệt hại trực tiếp cho cơ quan, đơn vị nơi mình công tác.
Bên cạnh đó, những trường hợp người có chức vụ, quyền hạn giải quyết đúng pháp luật, đúng công việc trong thẩm quyền của cá nhân được giao phó nhưng vẫn nhận hối lộ để giải quyết công việc theo yêu cầu của người hối lộ thì hành vi đó vẫn xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, xâm phạm đến uy tín của cơ quan, tổ chức mà họ là thành viên. Một hành vi nhận hối lộ khi bị phát giác, tạo thành sự bức xúc không nhỏ trong đại đa số nhân dân, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào chế độ, vào Đảng, đây cũng là mầm mống manh nha gây ảnh hưởng đến chế độ đất nước, cần phải kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi trong mọi thời điểm, trên mọi lĩnh vực. Đối tượng tác động của tội nhận hối lộ được pháp luật xác định là “của hối lộ”, bao gồm: tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất. Trong cấu thành tội phạm nhận hối lộ, “của hối lộ” được coi là tình tiết quan trọng để xác định mức độ phạm tội và khung hình phạt dành cho hành vi này.
Tiền là một phương tiện thanh toán ngang giá được dùng để trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận. Tiền được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ hoặc được một thuật toán mã hóa trên một mạng máy tính đảm bảo phát hành như Bitcoin, Ethereum. Tiền là một chuẩn mực 9 n chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền, chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản.
Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị. Tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng.