đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh ở lý thuyết chuyển đổi ký hiệu liên văn bản hết sức chi tiết và có hệ thống. Tuy nhiên luận văn vẫn còn tồn tại vấn đề về “sự trung thành”. Phần nhiều tập trung vào sự giống và khác của phim điện ảnh cải biên so với tác phẩm nguồn nhƣ thế nào. Năm 2017, Tiến sĩ Đào Lê Na trong công trình nghiên cứu Chân trời của hình ảnh từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira đã có những thống kê về lịch sử cải biên học trên thế giới.
Lí thuyết về cải biên học là sự phức hợp của các lí thuyết liên văn bản, phiên dịch học, văn hóa học, giải kiến tạo đã đƣợc trình bày trong luận án. Tác giả công trình còn nêu bật góc nhìn mới từ văn học đến điện ảnh, đó là một hành trình tuy khác biệt nhƣng vẫn có điểm giao nhau, phân tích tính cải biên khả thi và sự hồi đáp của ngƣời tiếp nhận đối với tác phẩm phim cải biên. Tác giả nhận định rằng văn học và điện ảnh là hai loại hình độc lập với nhau nên không thể phán xét tác phẩm điện ảnh có trung thành với tác phẩm văn học đến từng chi tiết không. Việc cải biên tác phẩm văn học chỉ là một cách đọc của nhà làm phim đối với tác phẩm ấy.
Tóm lại, về lịch sử nghiên cứu vấn đề, đa số các công trình nghiên cứu đều chú trọng sử dụng phƣơng pháp so sánh để tìm ra điểm giống và khác với tác phẩm tiền đề. Đa phần vẫn còn sử dụng thuật ngữ chuyển thể thay vì thuật ngữ cải biên. Tác phẩm sau khi đƣợc cải biên ít đƣợc nhìn nhận và xét trên một bình diện độc lập mà luôn bị đặt trong hệ quy chiếu so sánh giữa hai loại hình nghệ thuật khác biệt nhau về cách thể hiện. Nếu cứ cố gắng tìm ra đâu là gốc và đâu là sản phẩm hậu chuyển đổi, chúng tôi cho rằng sẽ rất khó để hiểu hết hành trình cải biên từ văn học đến điện ảnh.
Chính vì lý do đó mà giá trị của các tác phẩm từ quá trình cải biên chƣa đƣợc đánh giá đúng nơi công chúng ở chiều hƣớng định nhận. Tác giả Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết “Phiên bản” Nhà văn Nguyễn Đình Tú từ năm 2002 đến nay, tuy chỉ mới góp mặt vào làng văn Việt Nam 17 năm nhƣng đã để lại những tác phẩm sáng tác đáng ghi nhận về số lƣợng và chất lƣợng. Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Tú và các tác phẩm của anh từ nghệ thuật, phong cách sáng tác đến nội dung, các mặt hiện thực của cuộc sống đƣợc phản ánh… cũng ngày càng nhiều, cụ thể nhƣ sau: Bản thân Nguyễn Đình Tú là một sĩ quan quân đội, hoạt động binh nghiệp song song với công việc sáng tác văn chƣơng, cho nên Nguyễn Đình Tú và các sáng tác của ông trƣớc hết gây đƣợc sự chú ý từ các nhà văn quân đội nhƣ Nam Hà, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai. Các nhà văn trên đã có những đánh giá sắc sảo về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Đình Tú trong các bài viết:“Một khái niệm mới về tiểu thuyết “Hồ sơ một tử tù”; “Nguyễn Đình Tú và “Nháp”; “Phiên bản”- Một mệnh đề mang tính tường luận lý thú”.
Ngoài ra, cây bút văn dồi dào hiện thực Nguyễn Đình Tú còn thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà phê bình văn học nhƣ Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Chí Hoan, Ngô Tự Lập, Văn Giá, Inrasara, Trần Tố Loan, Đoàn Minh Tâm, Đoàn Ánh Dƣơng, Trịnh Sơn, Đào Bá Đoàn, Bùi Việt Thắng, Ngô Hƣơng Giang. Các nhà phê bình văn học trên cũng đã đƣa ra những nhận xét có giá trị về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú qua các bài viết nhƣ: “Kín - một dòng tiểu thuyết miên man”; “Từ Hồ sơ một tử tù” đến “Nháp” - một chặng đường tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”; “Phiên bản - Hồ sơ một sự thanh tẩy” ; “Hoang tâm -hay sự trở về với căn tính văn hóa”; “Thế hệ Nháp;Bên dòng Sầu Diện - Cách tiếp cận chiến tranh của người viết trẻ”; “Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết Nháp”; “Lối viết nước đôi hay phép lợi thế trong tiểu thuyết Phiên bản” Bên cạnh đó, liên quan đến các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú cũng có những bài viết lớn, nhỏ đƣợc in trên báo chí và các diễn đàn văn học nhƣ: Hoài Hƣơng với “Nháp hay sự yếm thế trong tâm hồn con người”; Nguyễn Thanh Tú với “Nháp hay sự nối dài những bi kịch”; Phạm Thùy Linh với “Phiên bản” - góc tiếp cận nhân văn; Nghiêm Tuấn Anh với “Phiên bản” những mảng tối của cuộc đời; Hƣơng Giang với “Phiên bản” của bạo lực và tình người; Phong Lan với Nguyễn 8 Đình Tú và hé lộ “Kín”; Lãm Nguyên với “Kín – cuộc tìm lối của người trẻ”; Tiểu Quyên với “Nhà văn Nguyễn Đình Tú - Nội lực sáng tạo không giới hạn”; Dƣơng Tử Thành với “Nguyễn Đình Tú không tránh sắc dục trong sách mới”. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài Khám phá, nghiên cứu về quá trình chuyển đổi ý tƣởng, tái tạo nội dung, sự dịch chuyển ký hiệu văn bản thể hiện gắn với lý thuyết cải biên học để từ đó làm rõ hành trình đi từ nghệ thuật ngôn từ của văn học sang nghệ thuật nghe nhìn của điện ảnh.
Làm rõ những những thông điệp đầy tính nhân văn ẩn chứa trong tiểu thuyết “Phiên bản” của nhà văn Nguyễn Đình Tú cũng nhƣ trong phim điện ảnh “Hương Ga” của đạo diễn Ngô Quốc Cƣờng. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3. Về đối tƣợng nghiên cứu Để thực hiện trọn vẹn đề tài nghiên cứu trên, chúng tôi chú trọng vào cuốn tiểu thuyết “Phiên bản” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, xuất bản ngày 11 tháng 7 năm 2014, nội dung chính thức 328 trang. Đồng thời ngƣời nghiên cứu đề tài cũng khảo sát thêm một vài các tiểu thuyết đã xuất bản và đã đƣợc cải biên thành phim để đối chiếu làm rõ vấn đề.
Bên cạnh đó chúng tôi cũng song song tìm hiểu và nghiên cứu về bộ phim điện ảnh “Hương Ga” của đạo diễn Ngô Quốc Cƣờng. Bản phim phát hành tại cụm rạp CGV ngày 27/10/2014. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quá trình cải biên của tiểu thuyết “Phiên bản” từ văn học sang điện ảnh. Chúng tôi nhận định rằng nội dung của tiểu thuyết “Phiên bản” và phim điên ảnh “Hương Ga” chắc chắn có sự thay đổi khi chuyển đổi từ bề mặt văn bản lên màn ảnh nghe nhìn.
Thuật ngữ chuyển thể chỉ chú trọng vào sự chuyển đổi thể loại mà chƣa tƣờng minh đến vấn đề thay đổi nội dung. Để thực hiện đƣợc công trình nghiên cứu này chúng tôi định hƣớng ngay từ đầu về lý thuyết nền. Về hƣớng nghiên cứu chúng tôi sử dụng thuật ngữ cải biên (Đào Lê Na, 2015) và các lý thuyết liên văn bản thay vì sử dụng thuật ngữ chuyển thể mang nặng tính so sánh 9 và chƣa chính xác. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn nghiên cứu về tác phẩm “Phiên bản” về hành trình của sự cải biên từ văn học sang điện ảnh trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về tác phẩm “Phiên bản” và các nghiên cứu về lý thuyết cải biên học.
Chúng tôi nhận thấy rằng cần có sự kết hợp nhiều lí thuyết nghiên cứu khác nhau để áp dụng vào lí giải đề tài, cụ thể chúng tôi định hƣớng nhƣ sau. Phương pháp thi pháp học: Nghiên cứu thi pháp của tác phẩm “Phiên bản” để thử lí giải nét đặc biệt thu hút độc giả mọi thời đại và không phân biệt biên giới. Chúng tôi áp dụng lí thuyết này cũng để tiếp cận cách tạo nên thế giới nghệ thuật của truyện kể cùng với những màu sắc cuộc sống của nhân vật trong truyện. Phương pháp tự sự học: Để thu hút đƣợc ngƣời nghe cũng nhƣ ngƣời đọc thì mỗi câu chuyện luôn phải có ngƣời trần thuật xuất sắc, họ đóng vai trò kể lại câu chuyện.
Ngƣời kể truyện trong tác phẩm “Phiên bản” đã rất thành công với giọng kể cũng nhƣ phƣơng pháp tự sự kể chuyện của mình. Phương pháp tiếp nhận văn học: Áp dụng phƣơng pháp này cho việc phân tích hiệu ứng của tác phẩm đối với độc giả. Từ đó, chúng tôi có thể tiến hành lí giải các tình huống truyện, mối quan hệ giữa các nhân vật, cốt truyện và mục đích sáng tác của các tác giả cũng nhƣ sự yêu thích và sức sống lâu bền của “Phiên bản”. Phương pháp nghiên cứu loại hình: Áp dụng lí thuyết này để nghiên cứu một cách độc lập tƣơng đối hai loại hình văn học và điện ảnh, để từ đó lí giải tác phẩm theo các đặc trƣng nghệ thuật của mỗi loại hình.
Phương pháp nghiên cứu liên văn bản: Phƣơng pháp này giúp chúng tôi lí giải những văn bản nhỏ trong một chỉnh thể văn bản lớn là tác phẩm, từ đó soi rọi cho việc nghiên cứu song song những biến chuyển từ văn học đến điện ảnh và sự tác độn g trở lại của điện ảnh đối với văn học. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn học và điện ảnh là hai loại hình tồn tại độc lập với nhau, áp dụng lí thuyết về cải biên học để tìm hiểu những yếu tố văn học và điện ảnh có trong tác phẩm văn học và bộ phim cải biên. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Luận văn nghiên cứu “Tiểu thuyết “Phiên bản” của nhà văn Nguyễn Đình Tú - Hành trình từ văn học đến điện ảnh” có ba phần. Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung luận văn có độ dài 101 trang, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1: Khái quát về cải biên học và đối tƣợng nghiên cứu Dung lượng: 19 trang Những nền tảng của cải biên học về khái niệm và lý thuyết Tiểu thuyết “Phiên bản” - nhà văn Nguyễn Đình Tú Phim điện ảnh “Hương Ga” - đạo diễn Ngô Quốc Cƣờng Tiểu kết chƣơng 1 CHƢƠNG 2: Tính cải biên khả thi của tiểu thuyết “Phiên bản” Dung lượng: 39 trang Những điều kiện thuận lợi để cải biên Những thách thức từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh Tiểu kết chƣơng 2 CHƢƠNG 3: Phim “Hƣơng Ga” - Sự hồi đáp của đạo diễn Dung lượng: 43 trang Cải biên cấu trúc tự sự Cải biên tình tiết Cải biên tƣ tƣởng tôn giáo Tiểu kết chƣơng 3 11 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ CẢI BIÊN HỌC VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1.