đặt vấn đề về cách ứng xử của con người trong cuộc chống chọi với nỗi đau khổ và nỗi khiếp sợ muôn thuở trước lịch sử. Bachelard thay thế các “giấc mơ” (rêves) bằng “sự mơ mộng” (rêverie). Theo đó, ông cho rằng thơ ca chính là sự mơ mộng xoay quanh vật chất nguyên thủy, những yếu tố đầu tiên làm nên thế giới: đất, nước, lửa, không khí. Và theo ông, chính các Cổ mẫu đó đã làm nên đặc trong nghệ thuật của các thiên tài như: E.
Poe, Novalis, Hoffmann,. Bachelard, cổ mẫu là các các hình tượng được tạo dựng vượt lên hiện thực, nó gắn liền với những giấc mơ nguyên thủy. Trong Nước và những giấc mơ, Bachelard thú nhận nghiên cứu Nước khó hơn nghiên cứu Lửa rất nhiều. Có lẽ vì Nước là nguyên tố có tuổi đời già nhất.
Có lẽ, do bản chất “nữ”, “đằm sâu”, “bền vững” “kín đáo”, “đơn giản” của mình, Nước thường hiện ra trước mắt Con Người ở phương diện bề mặt, như là cái phông trang trí, hơn là tiếng gọi cội nguồn thẳm sâu của nó. Vậy nên, theo G. Bachelard, đi tìm những “nét đẹp tư duy của nước”, ta phải xuyên qua các bề nổi để thấy bề sâu, xuyên qua trí tưởng tượng hình thức để khai mở trí tưởng tượng về nội dung. Bachelard đã khám phá và nhận diện Nước như một khám phá và nhận diện một con người.
Hay nói khác đi, qua Nước, ông nhận thức lại về vũ trụ và con người. Theo ông, người nghiên cứu phải bám sát mối liên hệ giữa những mặc cảm nguyên bản và những mặc cảm văn hóa, dưới một hình thức tốt đẹp thì mặc cảm văn hóa làm cho một truyền thống được sống lại và trẻ ra, và ngược lại [75]. Từ lý thuyết cổ mẫu của Carl Gustave Jung và Gaston Bachelard, chúng ta thấy có Northrop Frye, E. là những người tiếp bước đã tạo ra hệ phê bình riêng.
Northrop Frye, trong cuốn Giải phẫu phê bình, đã vận dụng những ý hướng khác nhau trong lý thuyết tâm lí vào nghiên cứu văn học, huyền thoại học. Theo Northrop Frye, huyền thoại là một quyền lực thông tin trung tâm cung cấp ý nghĩa cổ mẫu (archétype) cho nghi lễ và cho lời sấm truyền. Vì thế, huyền thoại là cổ mẫu. Trong văn học, cổ mẫu hiện lên trong cấu trúc ngôn từ, thậm chí trong những con chữ được tác giả sử dụng một cách đặc biệt như trường hợp lặp phụ âm đầu chẳng hạn.
Và như thế, hai thành tố chúng ta vẫn thường quan tâm của văn học đã có nguồn gốc trong huyền thoại (và nghi lễ). Về phương diện thể loại văn học, Northrop Frye đã thay thế khái nệm vô thức tập thể của những người khơi xướng bằng khái niệm vô thức của thể loại. Dưới cái nhìn của N. Frye, đó không đơn thuần là hiện tượng chuyển hoá của huyền thoại trong văn học mà là hiện tượng huyền thoại hoá văn học.
Điều này gợi ra một hình thức phê bình tổng thể mà trước hết là phê bình huyền thoại, phê bình cổ mẫu. Theo Đào Ngọc Chương, trong Giải phẫu phê bình, N. Frye coi khái niệm cổ mẫu như là một sự kiện văn học tự thân, một hiện tượng lặp lại đặc biệt mang tính liên văn bản giống như một qui ước [11]. Phê bình huyền thoại còn gọi là giải huyền thoại, đến N.
Frye, trở thành một hợp lưu, một dạng tổng 11 c đề, mở ra con đường thênh thang cho những khám phá mới, cho những trào lưu phê bình mới mở rộng phạm vi hoặc mang tính liên ngành. Họ đã triển khai rộng rãi các khái niệm vô thức cộng đồng, cổ mẫu để tiến hành những phân tích cụ thể nhằm khám phá tác phẩm văn chương. Meletinsky, tác giả cuốn Thi pháp của huyền thoại, đề cập nhiều lần tới thuật ngữ “nguyên mẫu” (thuật ngữ tiếng Nga hoặc tiếng Anh, đồng nghĩa với cổ mẫu). Khi dùng thuật ngữ này trong nghiên cứu về huyền thoại của các dân tộc trên thế giới, nhà ký hiệu học và folklore học này đã “đưa những hiệu chỉnh quan trọng vào cách hiểu kinh điển của Jung về những mẫu cổ đó.
Từ việc nghiên cứu các mẫu cổ (thuật ngữ trong bản dịch, tương đương với thuật ngữ cổ mẫu, tác giả luận án nhấn mạnh) huyền thoại trong cốt truyện dân gian, ông chuyển sang phân tích những mẫu cổ trong các tác phẩm kinh điển của Nga,. Thông qua đó, bằng cách đánh giá các cách nhìn nhận của các nhà nhân chủng học như: J. Frazer, Lévi Bruhl, Lévi Strauss,. ông đã vận dụng khá thành công các thuật ngữ trọng tâm của C.
Jung vào nghiên cứu văn học dân gian cũng như văn học hiện đại, đặc biệt là khuynh hướng tiểu thuyết huyền thoại, giải huyền thoại của các nhà văn đương đại phương Tây. Thi pháp của huyền thoại là một đóng góp lớn cho phê bình và lí luận văn học hiện nay. Tuy vậy, khi đề cập đến các cổ mẫu, ông chỉ đề cập tới việc miêu tả mang tính sơ lược, hay nói đúng hơn là tác giả đã không đi sâu vào yếu tố cổ mẫu, mà chỉ đề cập như một vấn đề lý thuyết cần thiết và hết sức quan trọng trong nhiều xu hướng nghiên cứu văn học nghiêng về khuynh hướng phê bình huyền thoại, phê bình nghi lễ,. trong giới nghiên cứu khoa học văn học hiện nay, cả văn học dân gian và văn học viết.
Từ đó, phê bình cổ mẫu chính thức bước từ lãnh địa phân tâm học sang lãnh địa nghiên cứu văn học, với tư cách vừa là một thuật ngữ vừa là một phương pháp đặc thù trong nghiên cứu văn học. Tình hình nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam từ góc nhìn lý thuyết cổ mẫu Cổ mẫu là gì? Nó được mô tả và hiểu như thế nào? Và nếu như nó tham dự vào văn chương thì liệu chúng ta có những hi vọng gì? Các nhà văn và nhà nghiên cứu Việt Nam trong nỗ lực tìm tòi, thử nghiệm và sáng tạo đã tìm đến cổ mẫu như một chất liệu nghệ thuật mới để tháo dỡ hiện thực, lắp ghép và cấu trúc lại nó. Và như vậy, người đọc sẽ có cơ hội tìm thấy ở xu hướng phê bình Cổ mẫu/ phê bình Archétype những vẫy gọi mới, thực hiện “hành động đọc” từ những “mơ mộng” của những kẻ sáng tạo trong cái nhìn soi chiếu ở chiều sâu văn bản. Ở Việt Nam, thuật ngữ cổ mẫu xuất hiện khá muộn, cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI.
Đã có một số công trình giới thiệu và vận dụng lý thuyết cổ mẫu trong nghiên cứu văn học. Phương Lựu, trong Lý luận Văn học hiện đại phương Tây đã dành một chương, chương XI (Tâm phân học) để giới thiệu lý thuyết “vô thức tập thể” của K. Jung và lý luận phê bình văn học “cổ mẫu thần thoại”. Đỗ Lai Thúy với Hồ Xuân Hương - Hoài niệm phồn thực [62], Bút pháp của ham muốn [63], đã nhìn nhận cổ mẫu như một yếu tố tái sinh nghĩa và là mã nghệ thuật cơ bản khi đi tìm thông điệp thơ Hồ Xuân Hương, thơ Hoàng Cầm,.
Từ đó, theo Đỗ Lai Thúy, tầng sâu trong sáng tác, nếu như ở hiện tượng bà chúa thơ Nôm là cách lí giải từ tín ngưỡng phồn thực và các biểu tượng mang tính siêu mẫu về văn hoá phồn thực, thì ở nhà thơ xứ Kinh Bắc là không gian văn hoá Quan họ cùng những hội hè đình đám, đặc biệt là phức cảm Oedipe,. Nguyễn Thị Thanh Xuân, trong bài Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam - Những khả năng và thách thức [54], đã xuất phát từ lý thuyết của C. Frye, để tìm cổ 13 c mẫu trong thơ Hồ Xuân Hương, thơ Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng và truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Trong đó, các yếu tố Đất, Nước, Trăng, Máu, Biển,.
được vực dậy từ vô thức tập thể - là những kinh nghiệm nguyên sơ nhất của con người về vũ trụ và cuộc sống. Tác giả cho rằng cái nhìn và bút pháp của Bùi Giáng, một nhà thơ hiện đại, đôi chỗ có cái gì đó gần với Hồ Xuân Hương: “thơ Hồ Xuân Hương ngả về bản năng, thơ Bùi Giáng thiên về bản nhiên. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ta chừng như thấy một người đàn bà Việt nghịch ngợm tai quái vục chiếc gáo dừa vào cái lu vô thức nhân loại, quậy chơi, và múc ra một hỗn hợp những Đất - Nước - Trời - Người, vung ra tung toé” [54, tr. Trong trò chơi này, thiên nhiên không còn là Mẹ Đất, Cha Trời của Con Người, mà như một người đàn ông bị lôi kéo vào cuộc chơi kì thú của người bạn nữ Việt thông minh và tràn đầy sức sống.
Dưới cái nhìn cổ mẫu, thơ Tản Đà đã vĩnh cửu hoá vầng trăng tự tại, biểu tượng thế giới an nhiên của chốn thiên thai, và thơ Hàn Mặc Tử thì tràn ngập Trăng “lai láng như nước và cần như hơi thở”. Đến đương đại, Nguyễn Huy Thiệp làm một cuộc nối mạch trở lại với huyền thoại. Đất, Nước, Biển, Sông, Rừng, Gió, Mưa, Lửa, Mẹ,. với tư cách là những cổ mẫu, ám ảnh Nguyễn Huy Thiệp không kém con người, và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng làm cho trang viết của ông có chiều sâu.
Chúng tham dự vào văn chương đầy mê đắm và khuất phục. Nguyễn Thị Thanh Xuân nhắc đến “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm” (Thơ Hồ Xuân Hương) “Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ” (Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc), và các cổ mẫu: cổ mẫu Đầm xuất hiện như một phép lạ: Đầm Dạ Trạch trong truyện Chử Đồng Tử, motif bay về trời, cổ mẫu Giếng, đặc biệt, cổ mẫu Nước. Riêng Hồ Xuân Hương lại chỉ có cảm hứng với những nước trong hang, hẻm, kẽ, khe, lách, lạch, nước tát, vũng,. nghĩa là những hình thái nước tù đọng, trong quy mô nhỏ, hẹp, ở những vị trí khuất nẻo, hóc hiểm,.
14 c Cũng theo hướng nghiên cứu phê bình cổ mẫu, Nguyễn Ngọc Chương có “Trầu cau” hay còn có tên gọi khác là “Trầu cau Việt điện thư”. Trong cuốn sách này, ông chủ yếu kể lại hành trình truy tìm và giải mã trầu cau bắt đầu từ Núi Trâu, giếng Việt. Câu chuyện của ông có đủ hình tượng của mẹ Đất (bà Diêm Vương thời mẫu hệ), rốn đất (giếng), nhau thai (rắn có mào) và Núi Trâu bao bọc và bảo vệ, để từ đó nêu ra nguyên lý, nguyên mẫu ẩn chứa trong văn hóa trầu cau của mình. Trong cuốn sách thứ 2 mang tên “Trầu cau nguyên nhất thư”, Nguyên Ngọc Chương vẫn tiếp tục cuộc hành trình đi tìm những giá trị cổ mẫu của văn hóa Trầu cau, đồng thời chứng minh những giá trị cổ mẫu này.