CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Dân ca Mông trong không gian văn hóa, văn học Mông 1. Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người.
Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Trong mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, văn hóa là đề tài, là chủ đề mà văn học muốn phản ánh, còn văn học là không gian để các giá trị văn hóa tồn tại và phát triển. Dân tộc Mông có nhiều tên gọi và cách viết khác nhau trên sách báo, các văn bản của cơ quan Nhà nước như: Mèo, HMông, H’Mông, Mông, HMông. Vậy cách đọc và viết như thế nào mới đúng? Tại hội nghị cốt cán năm 1978 đã chính thức gọi tên dân tộc này là dân tộc Mông.
Sau đó, các văn bản của Đảng và Nhà nước đều viết là Mông. Công văn số 09-CV/HĐDT ngày 04/12/2011 tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội (khóa X) có công văn nêu rõ: “Tên gọi dân tộc Mông, nếu viết bằng chữ phổ thông là ngôn ngữ chính thức của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì viết là dân tộc Mông”. Vì vậy, nhà nước ta đã thống nhất phiên âm tên gọi đồng bào là “Mông” và cách phát âm là “Mông”. Do đó, luận văn sử dụng cách viết và cách đọc là “Mông”.
Tuy nhiên, để tôn trọng các công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi xin giữ nguyên cách viết của các nhà nghiên cứu về dân tộc Mông trong các tài liệu trích dẫn. Dân tộc Mông cư trú ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La. 10 c “Người Mông là dân tộc có số dân đông nhất chiếm trên 31% các dân tộc trong tỉnh, với 2 nhóm chính là Mông trắng và Mông hoa. Người Mông Trắng sống tập trung ở các huyện phía Bắc như: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ.
Người Mông Hoa lại sinh sống chủ yếu ở các huyện phía Tây như: Hoàng Su Phì, Xín Mần và rải rác ở một số địa phương khác. Đặc điểm để phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa người Mông Hoa và Mông Trắng chỉ là ở trang phục của người phụ nữ. Ngôn ngữ của họ thuộc ngôn ngữ hệ Mông – Dao. Người Mông nổi tiếng với truyền thống canh tác nương đá, trồng lúa, ngô và các loại hoa màu khác.
Sản xuất thủ công của đồng bào Mông đạt đến trình độ khá cao như dệt, đan lát, làm đồ gỗ, rèn đúc. Cây lương thực chính của họ là cây ngô và cây lúa, trong đó chủ yếu là những sản phẩm làm từ cây ngô. Sản phẩm chăn nuôi là dê, bò, ngựa, lợn, ong. tuy nhiên các sản phẩm này mới chỉ dừng ở mức độ tự cung, tự cấp, do đó đời sống của người Mông nơi đây còn rất nghèo nàn, khó khăn.
Mặc dù đời sống vật chất không cao nhưng người Mông lại có một cuộc sống tinh thần tương đối phong phú và đa dạng, tạo nên truyền thống văn hóa với những nét đặc sắc. Truyền thống ấy không chỉ thấy ở những tập quán canh tác, chăn nuôi, ăn ở… mà còn ở trong toàn bộ tín ngưỡng, tâm linh, phong tục tập quán, trong các mối quan hệ dòng họ, gia đình, xã hội… và chúng được thể hiện rõ nét trong văn học. Văn học có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phản ánh nền văn hóa dân tộc trên nhiều bình diện như phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức dân gian, truyền thống văn hóa, các danh thắng, đền đài,… Như vậy, xét về một ý nghĩa nào đó, các tác giả là người đã viết nên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học để thức nhận những ký ức văn hóa dân tộc. Tiếp xúc với tác phẩm văn học cũng chính là tiếp xúc với những giá trị văn hóa được nhà văn phản ánh trong đó, nhất là những tác phẩm văn học mà đối tượng phản ánh là những vấn đề văn hóa như tác phẩm văn học viết về phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, các truyền thuyết lịch sử, lễ hội….
Đọc các tác phẩm văn học Mông, ta có thể cảm nhận được những giá trị văn hóa của người Mông. Cũng giống như các đồng bào khác, đồng bào Mông 11 c rất coi trọng và đề cao mối quan hệ gia đình. Gia đình chính là cái nôi hình thành và phát triển các quan hệ trong xã hội. Trong gia đình người nam giới được coi trọng và chủ trì những công việc lớn như cưới xin, ma chay, thờ cúng tổ tiên.
Nam giới người Mông luôn là trụ cột, người chủ chính trong gia đình, được quyền quyết định mọi việc quan trọng và đảm nhiệm những công việc đòi hỏi sức dẻo dai trong lao động. Còn người phụ nữ Mông thì đảm nhiệm công việc nhà từ đi chợ, nấu cơm đến làm nương rẫy và chăm sóc con cái. Tuy nhiên các cô gái Mông chịu nhiều thiệt thòi do luật tục, định kiến trong xã hội Mông xưa, họ bị trói buộc bởi các tục lệ: ép hôn, cưỡng hôn, tảo hôn, nối dây. Chính vì vậy mà người Mông luôn mong có nhiều con trai hơn con gái.
Tâm lí này đã ăn sâu vào nhiều phong tục tập quán, nhiều lĩnh vực của đời sống người Mông. Gia đình người Mông vừa được coi là một đơn vị kinh tế, vừa được coi là một đơn vị văn hóa. Ngay từ nhỏ các bé gái đã được dạy thêu thùa, dệt vải, còn các bé trai thì được làm quen với súng săn, thổi sáo, thổi kèn, bắn nỏ. Người Mông thường cư trú độc lập thành các bản.
Mỗi bản thường có một, hai dòng họ. Mỗi dòng họ đều có quy ước, kiêng kị riêng trong đời sống. Chính những quy ước này là sợi dây gắn bó các thành viên cư trú nhỏ lẻ, phân tán thành một lực lượng làm nên sức mạnh đoàn kết đấu tranh để bảo vệ dòng họ. Người Mông rất coi trọng dòng họ, họ quan niệm: người cùng dòng họ là những người anh em có cùng tổ tiên, có thể đẻ và chết trong nhà nhau, phải luôn luôn giúp đỡ nhau, cưu mang nhau.
Mỗi dòng họ cư trú quây quần thành một cụm, có một trưởng họ đảm nhiệm công việc chung. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Trong phong tục tập quán của người Mông, cưới xin và tang ma để lại những dấu ấn bản sắc mang tính truyền thống của người Mông nhiều hơn cả. Đám cưới của người Mông thường được tổ chức vào mùa xuân vì họ quan niệm mùa xuân là mùa vạn vật sinh sôi nảy nở, tuyệt đối không tổ chức đám cưới vào những tháng có sấm chớp. Hôn nhân của người Mông phải trải qua các bước như 12 c dạm hỏi, dẫn cưới và lễ đón dâu. Lễ dạm hỏi bắt buộc phải có hai ông mối thông thuộc các bài hát nghi lễ cưới xin, kết nối hai nhà để làm thủ tục dạm hỏi và hẹn ngày đón dâu.
Để chuẩn bị cho đám cưới, nhà trai phải tổ chức họp gia đình mời những người trong dòng họ để bàn bạc và chuẩn bị kỹ lượng từ việc tổ chức đến đồ sính lễ. Vào ngày trọng đại, người thân và những người tham dự lễ cưới thường mặc trang phục truyền thống đẹp nhất do chính người phụ nữ Mông thêu và may. Đám cưới người Mông bao giờ cũng phải có ông mối, chú rể, phù dâu, phù rể và những người đại diện cho họ nhà trai sang nhà gái làm các thủ tục và nghi lễ để đón cô dâu về. Sau khi nhà trai xin phép, phù dâu sẽ vào buồng và dắt cô dâu ra ngoài.
Phù rể sẽ cùng chú rể quỳ lạy tổ tiên, vái lạy cha mẹ nhà gái trước khi rước dâu đi. Sau khi hoàn tất các thủ tục cô dâu được hai người anh em trong gia đình dắt tay ra cửa trao cho người đón dâu. Theo phong tục, khi cô dâu, chú rể đã ra khỏi cửa thì không được quay đầu nhìn lại nhà cha mẹ cô dâu nữa và nhà gái cũng không được đưa dâu đến nhà trai. Đoàn đón dâu đi đến nửa đường phải dừng lại nghỉ, bày đồ ăn thức uống ra để ông mối làm lễ mời các vị thần, đồng thời cô dâu cũng phải thay đồ mới trước khi về nhà chồng.
Cô dâu về tới trước cửa nhà trai còn phải làm một nghi lễ nhập ma nhà chồng mới được vào cửa: bố chú rể ra đón cặp vợ chồng, trên tay cầm một con gà trống đưa sang trái và phải ba cái để xua đuổi những điềm không may, đón những điều may mắn, sau đó làm lễ nhập gia cho cô dâu mới. Trước đây người Mông rất phổ biến tục “bắt vợ”. Tục cướp vợ có nhiều ở một số dân tộc thiểu số ở nước ta, nhưng ở người Mông tục này được tồn tại lâu hơn. Thanh niên tổ chức đón đường kéo người con gái đó về, dù người đó không bằng lòng.
Sau khi cướp được hai hôm nhà trai cử người báo cho nhà gái biết và tiến hành bàn việc cưới. Do đó nhiều cô gái phải lấy người không vừa ý, vì người con gái đã qua lễ nhập môn thì phải lấy người con trai đã kéo mình. Tang lễ của người Mông là một nghi lễ thể hiện sự tri ân giữa người sống với người đã mất đồng thời phản ánh những quan niệm lịch sử, xã hội và đời sống tâm linh của đồng bào Mông. Đây được coi là một hiện tượng văn hóa đặc sắc của người Mông.
Khác hẳn với các dân tộc khác, người Mông thường tổ 13 c chức hai đám tang: đám ma tươi, đám ma khô. Khi có người chết gia đình bắn chỉ thiên ba phát súng báo hiệu cho dân bản biết có người chết, con cháu trong gia đình đi mời gọi anh em dân bản, thầy khèn, thầy trống, thầy cúng. Sau khi phát tang sẽ tiến hành các nghi lễ: trước tiên là lễ chỉ đường để người chết tìm đến tổ tiên.