Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1. Những vấn đề chung về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực trong xã hội, cụ thể là lĩnh vực hòa giải ở cơ sở.
Để làm sáng tỏ khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, trước hết cần làm rõ những khái niệm có liên quan như: hòa giải, hòa giải ở cơ sở, pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà xuất hiện nhiều quan niệm về hòa giải. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thì hòa giải là: “thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [46, tr. Theo Từ điển Luật học thì hòa giải là: Tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác.
Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự [44, tr. Quan niệm này không phân biệt được phương thức thương lượng tự giải quyết với phương thức hòa giải, vô hình đồng nhất người trung gian với người hòa giải. 8 Luan van Một số luật gia lại cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như là một quy định, một trình tự, thủ tục để giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… Trong khi đó, các nhà hoạt động thực tiễn thì coi hòa giải là hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những mâu thuẫn, bất đồng. Trên thực tế đời sống xã hội, có nhiều loại hình hòa giải với phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh riêng, cũng như có nội dung, thủ tục tiến hành, chủ thể tham gia và các đặc trưng pháp lý riêng.
Vì thế, trên cơ sở những điểm chung giống nhau giữa các loại hình hòa giải, có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau: Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột và chấm dứt các tranh chấp, bất hòa. Hình thức hòa giải trong cộng đồng dân cư đã có từ lâu ở Việt Nam, trước khi Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (ngày 25/12/1998) được ban hành, và cũng được gọi là “hòa giải ở cơ sở”. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014) tiếp tục kế thừa và phát triển khái niệm hòa giải ở cơ sở. Tại Khoản 1 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luât này” [28].
9 Luan van Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là những quy định của pháp luật dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động hòa giải ở cơ sở. Pháp luật về hòa giải ở cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở, từ văn bản cao nhất là Hiến pháp cho đến các văn bản dưới luật khác. Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” [25, tr. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, ngày 25/12/1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 18/10/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở.
Ngoài ra còn có các văn bản khác như: Quyết định số 06/2008/QĐ-BTP ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành biểu mẫu thống kê về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải ở cơ sở; Chương trình phối hợp số 1285/CTPH-BTP-BTTUBTƯMTTQVN ngày 24/4/2009 giữa Bộ Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tăng cường thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày 27/6/2011 về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở… Cùng với Hiến pháp 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và những văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành của Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan, các văn bản của UBND các cấp ban hành đã tạo nên một hệ thống đồng bộ các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. 10 Luan van Như vậy, có thể định nghĩa pháp luật về hòa giải ở cơ sở như sau: Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là tổng thể các quy phạm pháp luật thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở. Thực hiện pháp luật là sự nối tiếp xây dựng pháp luật, gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội và sinh hoạt của công dân. Về bản chất, thực hiện pháp luật là quá trình hiện thực hóa pháp luật, làm bộc lộ và phát huy những giá trị tiềm năng của pháp luật trong thực tế.
Trong thực hiện pháp luật, những hoạt động có tính chủ động như sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật đòi hỏi phải có một cơ chế tổ chức và nguồn lực lớn về con người lẫn vật chất mới có thể bảo đảm thực hiện tốt. Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thực hiện pháp luật. Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nay là Viện Nhà nước - Pháp luật thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì thực hiện pháp luật được hiểu là: “quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [18, tr. Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [18, tr.
11 Luan van Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Các định nghĩa trên đều có quan niệm tương đối đồng nhất về nội dung cơ bản đó là: thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng có sự khác nhau trong các định nghĩa trên. Có định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động, các định nghĩa khác lại chỉ nêu thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình.
Tóm lại, thực hiện pháp luật được thống nhất hiểu chung là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống. Pháp luật về hòa giải ở cơ sở muốn đi vào thực tiễn đời sống xã hội cần phải biến những quy định, những yêu cầu trong quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở như sau: Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm góp phần giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp 12 Luan van luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giảm bớt một phần gánh nặng cho tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần tạo sự ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở - Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở: Hòa giải ở cơ sở là quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên trong đó có sự tham gia của bên thứ ba - hòa giải viên giữ vai trò làm trung gian, trung lập.
Với vai trò trung gian ấy, hòa giải viên có nhiệm vụ thuyết phục, giúp các bên tranh chấp tìm được tiếng nói chung để tự dàn xếp mâu thuẫn một cách ổn thỏa. Vì lẽ đó, trước hết hòa giải viên phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, tôn trọng ý chí của họ.