Chương 1. Những vấn đề chung + Chương 2. Sự vận động về phương diện nội dung tư tưởng trong thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương. Sự vận động về phương diện nghệ thuật trong thơ Nôm tứ tuyệt từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương.
- Kết luận 13 c PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Quan niệm về thơ tứ tuyệt 1. Về thuật ngữ tứ tuyệt Thơ tứ tuyệt là một thể thơ có từ xa xưa và cho đến ngày nay vẫn có nhiều nhà thơ sử dụng nó để sáng tác, ký thác tâm sự của mình. Với sức sống mãnh liệt như thế nhưng cho đến nay quan niệm về thơ tứ tuyệt vẫn chưa được thống nhất, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ cũng như tên gọi thể thơ đặc biệt này.
Ở cả Trung Quốc và Việt Nam đều có nhiều cách định nghĩa, nhiều quan niệm về thơ tứ tuyệt cũng như về sự hình thành của thể thơ này. Ý kiến thứ nhất cho rằng: Tứ tuyệt là kiểu bài chỉ có bốn câu. Số tiếng trong câu không hạn chế, cách gieo vần tự do không chịu sự ràng buộc của niêm luật như quan niệm của tác giả Nguyễn Sĩ Đại, ông cho rằng: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết có niêm luật chặt chẽ”[1, tr.14], chính vì hiểu như vậy mà tất cả các bài thơ bốn câu đều được cho là thơ tứ tuyệt. Ý kiến thứ hai cho rằng: “Thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành” [7, tr.
Hoặc “Theo lối này (tức tứ tuyệt) thường ngắt hai câu đầu, hai câu cuối, hoặc bốn câu cuối của bài bát cú mà thành”[42, tr. Ý kiến thứ ba theo nhà nghiên cứu Phan Văn Nhiễm trong Tìm hiểu các thể thơ: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường”[30, tr.35] Định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học: Thơ tứ tuyệt “Nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm chữ hoặc bảy chữ. Loại câu năm chữ gọi là ngũ ngôn tuyệt cú, hay ngũ tuyệt. Loại câu bảy chữ gọi là thất ngôn tuyệt cú hay thất tuyệt.
Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật, 14 c có quy định bằng, trắc, niêm, đối. Loại này còn gọi là luật tuyệt để phân biệt với cổ tuyệt là những bài thơ tuyệt cú không làm theo thơ Đường luật” [8, tr. Những ý kiến và định nghĩa trên đưa đến cho chúng ta hai cách hiểu cơ bản về thơ tứ tuyệt, thứ nhất một bài thơ tứ tuyệt là bài thơ cắt bốn câu của một bài bát cú mà thành, do đó nó tuân theo niêm luật của một bài bát cú; thứ hai, bài thơ tứ tuyệt là bài thơ không nhất thiết phải làm theo cổ tuyệt hay luật tuyệt, mà chỉ cần đáp ứng đó là một bài thơ bốn câu và làm theo thể thơ gì cũng được. Có thể thấy, cách hiểu thứ hai này thông thoáng và mở rộng hơn nhiều so với cách hiểu thứ nhất và cách hiểu này hợp lý hơn cả, khi xem bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể độc lập về cấu trúc chứ không phải là kết quả của sự cắt ra từ bài bát cú, và đây là một chỉnh thể nhỏ gọn nhất trong các thể thơ được sử dụng ở Trung Quốc từ đời Đường về sau cũng như ở Việt Nam thời trung đại.
Chúng tôi cho rằng một bài thơ hay cần phải xúc tích, không cần phải dài dòng kể lể mà phải có sự cân đối, lời ít ý nhiều, thi ảnh đặc sắc, hình tượng độc đáo. Tứ tuyệt luôn thể hiện được sự tinh lọc tối đa hình ảnh và cảm xúc, từ một phạm vi đời sống nhỏ hẹp, có khả năng vươn đến một tầm nhìn khái quát, toàn vẹn, đặt ra những vấn đề thuộc về bản chất, quy luật muôn đời. Do vậy, tứ tuyệt thể hiện tốt sự tinh lọc tối đa hình ảnh, tổ chức chặt chẽ giữa các bộ phận để tạo thành tứ thơ tối ưu, qua đó thể hiện được tài năng của tác giả trong việc lựa chọn từ ngữ, đặt câu để mỗi bài thơ đều có sức gợi trong tâm trí người đọc. Thơ càng ngắn thì sức khái quát càng cao mới tạo ra được một tiểu vũ trụ của nó.
Một bài thơ tứ tuyệt hay phải lựa chọn được những khoảnh khắc dồn nén của đời sống tinh thần, những hiện thực tâm trạng đặc biệt, những phút thăng hoa của cảm xúc; phải dồn nén biểu cảm để tính khái quát của triết lý đạt tới cao độ sắc bén nhất. Cũng nhờ sự vận dụng thể thơ tứ tuyệt thông thoáng này mà những dồn nén của tâm tư cảm xúc, tài năng tâm lực của tác giả sẽ được gửi gắm trong thơ, qua đó truyền tải được 15 c những vấn đề lớn lao, có giá trị và ý nghĩa sâu xa của đời sống. Tứ tuyệt do ngắn cho nên hình ảnh, sự kiện được cô đọng dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền tụng vì thế mà thể thơ này được nhiều người yêu mến, được nhiều nhà thơ sử dụng trong sáng tác của mình. Thơ Nôm tứ tuyệt ở Việt Nam thời kỳ trung đại là một thể thơ được nhiều nhà thơ ưa chuộng sử dụng.
So với thơ tứ tuyệt luật Đường, các nhà thơ trung đại Việt Nam bên cạnh việc tiếp thu nghiêm cẩn nghệ thuật thơ ca Trung Quốc, họ còn sáng tạo thơ tứ tuyệt theo lối phá cách, kết hợp với ngôn ngữ Nôm, thứ ngôn ngữ tinh tế, trong sáng giàu giá trị biểu hiện, để tạo nên “Một lối thơ Việt Nam” đậm vị, sắc nét, linh hoạt biến hóa khôn lường. Thơ Nôm tứ tuyệt Việt Nam vẫn đảm bảo đặc trưng hàm Súc, cô đọng với độ dồn nén giàu ý tưởng “ít lời, ý nhiều”, nhưng đồng thời lại có khả năng thể hiện những tình cảm, cảm xúc, hứng thú bất ngờ không theo một khuôn hình cứng nhắc. Như vậy, quan niệm thơ tứ tuyệt là gì còn tùy vào quan điểm của mỗi người khi tiếp nhận. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, thơ tứ tuyệt vẫn tồn tại và phát triển, điều đó cho thấy sức sống diệu kỳ của thể thơ này.
Bởi chính sự giản dị của lời thơ, sự chân thành của tình cảm và tài năng nghệ thuật của chủ thể trữ tình đã góp phần làm cho các bài thơ tứ tuyệt luôn chiếm được tình cảm yêu mến của các thế hệ bạn đọc. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm thuật ngữ tứ tuyệt với cách hiểu tương đối rộng, có khả năng bao quát các trường hợp cụ thể trong thơ tứ tuyệt, để trong quá trình triển khai đề tài có sự thống nhất và đồng bộ. Qua việc lựa chọn khảo sát những bài thơ tứ tuyệt của hai tác giả Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, chúng tôi tạm đưa ra cách hiểu thơ tứ tuyệt là bài thơ bốn câu, không nhất thiết phải thất ngôn tứ tuyệt ngắt ra từ bài thất ngôn bát cú; có thể là ngũ ngôn hoặc thất ngôn xen lục ngôn; cũng có thể là những bài có câu lục, câu bát xen kẽ. Tất cả những kiểu bài như vậy đều xuất hiện trong thơ tứ tuyệt Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương.
Hình thức của một bài tứ tuyệt Theo Đặng Đức Siêu và Nguyễn Ngọc San [40, tr.9,10,11], một bài thơ tứ tuyệt có hình thức như sau: - Số câu, số chữ: Tứ tuyệt cổ thể hay cận thể đều có bốn câu, mỗi câu năm chữ hoặc bảy chữ. - Vần: Vần trong thơ cổ thể nói chung là vần chân, toàn bài có thể dùng một vần hoặc nhiều vần, vần bằng hoặc vần trắc đều được cả. Trong thơ cổ thể, không có những quy định chặt chẽ về phối hợp bằng trắc, nhưng cũng có yêu cầu khá cao về sự hài hòa thanh điệu. Trong thơ cận thể, một bài tứ tuyệt thường có ba vần gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, nhưng cũng có thể chỉ có hai vần đó là hình thức trốn vần, vần có thể lược bỏ ở câu 1.
Từ gieo vần có thể là thanh bằng (vần bằng), hoặc thanh trắc (vần trắc), thông thường vần bằng được ưa chuộng hơn vần trắc. - Bằng trắc, nhịp, niêm, luật: Trình tự sắp xếp các thanh bằng, trắc trong thơ cận thể được quy định rõ ràng có thể thu gọn lại thành một số mô thức như sau: + Trong thơ ngũ ngôn có thể nêu bốn mô thức tiêu biểu như sau: I - b b b t t II - t t t b b III - b b t t b IV - t t b b t + Trong thơ thất ngôn có thể nêu bốn mô thức tiêu biểu sau: I - t t b b b t t II - b b t t t b b III - t t b b t t b IV - b b t t b b t Sự thay đổi trình tự sắp xếp bốn mô thức ở trên sẽ tạo ra bốn dạng thơ ngũ ngôn hay thất ngôn phổ biến nhất. 17 c Bài thơ nào mở đầu bằng hai thanh bằng (Căn cứ vào chữ thứ hai của câu mở đầu) thì đó là bài thơ luật bằng. Bài thơ nào mở đầu bằng hai thanh trắc, cũng căn cứ vào chữ thứ hai của câu đầu, thì đó là bài thơ luật trắc.
Để tuân thủ các quy định về bằng trắc được rõ ràng hơn, thi pháp học cổ điển đưa ra luật lệ “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” nghĩa là các chữ thứ 1, 3, 5, bằng hay trắc đều được cả, còn các chứ thứ 2, 4, 6, phải theo quy định bằng, trắc. - Niêm: Theo quy định, hai câu thơ được gọi là niêm với nhau thì các chữ 2, 4, 6 ở câu thơ 1 với câu 4 và câu 2 với câu 3 phải cùng thanh với nhau. - Nhịp: Nhịp thơ thường là chẵn trước, lẻ sau, thơ ngũ ngôn là: 2/3, còn nhịp thơ thất ngôn là 4/3, hoặc 2/2/3. - Đối: Là biện pháp tạo ra sự cân xứng nhằm nhấn mạnh sự tương phản, hoặc tương đồng.
Trong thơ cận thể, đối được thể hiện trên các mặt: đối thanh điệu, đối ý, đối từ loại. Trong thơ tứ tuyệt nói chung, không cần đối, nếu có thường là câu 1 với câu 2, hoặc câu 3 với câu 4 hoặc cặp câu 1,2 và 3,4 đối với nhau.